Biến Mất

CHƯƠNG 9



Chúng ta không thể để thông tin này lọt ra ngoài được – Gabriel nói – nó có thể giết cô ấy. Thám tử điều tra án mạng Barry Frost hơi sửng sốt. Họ đang đứng trong khu đậu xe của câu lạc bộ thuyền buồm Sunrise. Chẳng có lấy một ngọn gió, trên vịnh Hingham mấy chiếc thuyền buồm dật dờ như chết.
Dưới cái nóng nực của trời chiều, mồ hôi cũng đã thấm đẫm áo và lấp lánh trên trán cũng như tóc của Frost. Trong căn phòng đầy người, Barry Frost có thể coi là người duy nhất chúng ta có thể kể đến, một người im lặng ngồi trong góc, mỉm cười khó hiểu. Với tính khí nhẹ nhàng của mình anh ta đã làm thành một cặp bài trùng với Jane – một đồng nghiệp mà sau hơn hai năm họ đã tạo trong nhau niềm tin tuyệt đối.
Giờ đây hai người đàn ông cùng quan tâm tới Jane – một là chồng và một là đồng sự đối diện với nhau. – Không ai cho chúng tôi biết là cô ấy ở trong đó cả – Frost lẩm bẩm – Chúng tôi không có ý gì. – Chúng ta không thể để các phương tiện đại chúng tìm ra điều này. – Nó sẽ là một thảm họa – Frost thở mạnh.
– Nói cho tôi biết Jane Doe là ai. Nói cho tôi biết tất cả những gì anh biết. – Tin tôi đi. Chúng tôi sẽ đưa tất cả những người còn kẹt trong đó ra ngoài. Anh phải tin chúng tôi. – Tôi không thể cứ ngồi ngoài này được. Tôi phải biết mọi điều. – Anh không thể đánh giá khách quan được vì cô ấy là vợ anh.
– Đúng thế. Cô ấy là vợ tôi – Có chút gì lo sợ trong giọng nói của Gabriel. Anh ngừng một chút để nén xúc động rồi nói nhẹ nhàng – Anh sẽ làm gì nếu Alice bị bắt giữ trong đó? Frost nhìn anh ta một lúc rồi cuối cùng cũng gật đầu: – Vào đi. Chúng tôi đang nói chuyện với hội trưởng hội đua thuyền.
Ông ấy đã vớt cô ta lên. Họ cùng bước vào căn phòng mát mẻ của câu lạc bộ đua thuyền, thoát khỏi ánh nắng oi ả bên ngoài. Bên trong có mùi giống như tất cả các quán bar bên bờ biển mà Gabriel từng bước vào. Mùi của biển nồng đượm hòa quyện với mùi hoa quả. Đó là một căn nhà được dựng bằng gỗ, khá ọp ẹp, tầm nhìn trông ra phía ngoài vịnh Hingham.
Gabriel nhận ra hai viên thám tử thuộc phòng cảnh sát Boston đang đứng bên quầy bar nói chuyện với một người đàn ông hói đầu. Cả Darren Crowe và Thomas Moore đều là đồng nghiệp của Jane trong đội điều tra án mạng, cả hai chào Gabriel với vẻ ngạc nhiên: – Này, tôi không biết là FBI cũng tham gia vào vụ này đâu đấy – Crowe bảo.
– FBI ư – ông hói hỏi – Oa, có vẻ nghiêm trọng hơn rồi đấy nhỉ – Ông ta đưa tay ra cho Gabriel – Tôi là Skip Boynton, hội trưởng câu lạc bộ đua thuyền Sunrise. – Tôi là mật vụ Gabriel Dean – Gabriel nói rồi bắt tay người đàn ông, cố gắng để làm ra vẻ trịnh trọng. Nhưng anh vẫn cảm thấy được ánh mắt của Thomas Moore đang nhìn mình.
Moore đã có thể hiểu rằng có chuyện gì khúc mắc ở đây. – Tôi vừa kể cho mấy thám tử ở đây nghe về việc chúng tôi đã tìm thấy cô ta như thế nào. Ghê thật, để tôi kể lại cho anh việc thấy một người trong nước nó như thế nào – Ông ta dừng lại – À, anh có muốn uống chút gì không mật vụ Dean? – Không, cảm ơn.
– À, được rồi. Đang làm nhiệm vụ hả – Skip cười thông cảm – Các anh luôn làm giống như trong sách vẫn viết đúng không? Không ai uống gì cả. Vậy thì kệ, tôi sẽ uống – Nói rồi ông ra phía sau quầy bỏ mấy viên đá vào ly rồi rót rượu vodka lên. Gabriel nghe thấy những tiếng lách cách của đá khi cho vào cốc, anh nhìn quanh và thấy trong phòng có khoảng chục người đang ngồi trên ghế.
Hầu hết đều là đàn ông và họ là thành viên của câu lạc bộ đua thuyền. Có ai trong số họ thực sự thích lái thuyền không nhỉ? Gabriel băn khoăn. Hay họ chỉ đến đây để nhậu nhẹt? Skip ra khỏi quầy với ly vodka trong tay. – Không phải ngày nào chuyện đó cũng xảy ra, tôi vẫn còn khá sợ hãi khi nghĩ về nó đấy.
– Chúng ta đang nói đến chuyện ông đã thấy cái xác như thế nào – Moore bảo. – À, vâng. Lúc đó vào khoảng 8 giờ sáng. Tôi dậy sớm để đi kiểm tra chiếc buồm của tôi. Chúng tôi có một cuộc đua trong hai tuần tới nên tôi muốn dùng buồm mới. Một chiếc có hình rồng xanh rất mạnh mẽ.
Vì thế mà tôi đến cầu tàu mang theo chiếc buồm mới và lúc đó tôi đã thấy có một vật gì đó bập bềnh trên mặt nước, bị vướng vào một tảng đá. Tôi liền chèo thuyền ra ngoài đó để nhìn cho kĩ. Và lạy Chúa, đó chẳng phải một phụ nữ hay sao? Lại còn rất đẹp nữa chứ. Vì thế tôi đã gọi hai người nữa đến và ba chúng tôi cùng kéo cô ta lên khỏi mặt nước.
Sau đó thì chúng tôi gọi 911. Ông ta uống một hớp rượu rồi tiếp: – Không bao giờ chúng tôi có thể tưởng tượng được là cô ta vẫn còn sống. Ý tôi là, trông cô ta lúc đó y như chết rồi. – Thế thì với đội cứu hỏa và giải thoát cũng thế – Crowe nói. Skip cười: – Mà những người đó lại được xem là các chuyên gia đấy.
Nếu họ không thể trả lời chính xác thì còn ai có thể đây? – Chỉ cho chúng tôi nơi ông tìm thấy cô ta – Gabirel bảo. Bọn họ cùng ra khỏi căn phòng, bước lên cầu cảng. Mặt nước phản chiếu ánh mặt trời lấp lánh khiến Gabriel cố gắng lắm mới nhìn ra được những mỏm đá mà Skip đang chỉ.
– Nhìn phía vũng sâu kia mà xem, ở đó nước rất sâu nên chúng tôi phải thả phao báo hiệu. Lúc triều cường sẽ không thấy nó. Rất dễ để chạy vòng quanh đó. – Hôm qua thủy triều lên lúc mấy giờ? – Gabriel hỏi. – Tôi không rõ, khoảng 10 giờ sáng. – Thế cái vũng đó thế nào? – À, nếu tôi mà không nhìn thấy cô ta lúc đó thì sau đấy vài giờ chắc cô ta đã bị thủy triều cuốn ra biển rồi.
Mấy người đàn ông đều yên lặng, nhìn ra ngoài vịnh Hingham. Một chiếc tàu máy chạy qua làm những chiếc thuyền dập dềnh trên sóng nước. – Trước đây ông đã từng nhìn thấy người phụ nữ ấy chưa? – Moore hỏi. – Chưa từng. – Ông chắc chứ? – Một cô gái như thế ư? Tôi thật ngớ ngẩn nếu không nhớ cô ta.
– Cũng không có ai trong câu lạc bộ nhận ra cô ta? – Không ai thừa nhận chuyện đó cả – Skip cười. – Tại sao lại thế – Gabriel nhìn ông ta. – Ừ thì các anh biết đấy… – Sao ông không cho chúng tôi biết nhỉ? – Những người trong câu lạc bộ – Skip cười có vẻ khá căng thẳng – Ý tôi là các anh có để ý thấy những con thuyền đang neo ngoài kia không? Các anh nghĩ ai là người lái chúng? Tất nhiên là không phải các bà vợ rồi.
Chính là những anh chàng ngồi gần đây. Một con thuyền chính là nhà của chúng ta khi ta xa nhà – Skip ngừng lại một lát – Cuộc sống mà. – Ông nghĩ cô ta là bạn gái của ai đó không – Crowe nói. – Tôi không biết. Tôi nghĩ nó có thể là một khả năng. Các anh biết đấy, mang theo một cô nàng để vui đùa một chút, thêm chút rượu nữa sẽ dễ dàng rơi khỏi thuyền.
– Hoặc có thể bị đẩy ngã. – Đợi chút nào – Skip nhìn cảnh cáo – Các anh không định đưa ra kết luận đó đấy chứ? Trong câu lạc bộ này đều là các anh chàng tử tế. Những chàng trai tử tế. Ai có thể mang bạn gái lên thuyền của mình nhỉ? Gabriel nghĩ. – Tôi tiếc mình đã đưa ra khả năng đó – Skip nói – Nó không giống kiểu người ta bị ngã khỏi thuyền mà không uống rượu.
Cũng có thể là một chiếc thuyền nào đó không phải một trong số thuyền của chúng tôi – Ông chỉ tay về phía chiếc tàu xa xa – Đó, các anh thấy chưa, có đủ phương tiện ở đây. Cô gái đó có thể ngã khỏi một chiếc thuyền máy lắm chứ. Sau đó thủy triều đẩy vào trong này. – Dù vậy chúng tôi vẫn cần bản danh sách tên các thành viên trong hội của ông – Moore nói.
– Cần phải thế à? – Vâng, thưa ông Boynton. Skip uống ít vodka còn lại. Nóng nực khiến mồ hôi lấp lánh trên trán ông ta. Gạt mồ hôi, ông nói: – Mọi thứ rồi sẽ tốt đẹp với tất cả hội viên thôi. Chúng tôi chỉ thực hiện nghĩa vụ công dân là vớt người phụ nữ đó ra khỏi nước mà thôi.
Thế mà giờ bọn tôi lại bị nghi ngờ? Gabriel quay nhìn phía bờ nơi có chiếc xe tải đang hạ một chiếc thuyền máy xuống nước. Ba chiếc xe khác dùng để hạ thuyền đang xếp hàng trong khu vực đỗ xe chờ đến lượt mình. – An ninh về ban đêm ở khu của ông thế nào ông Boynton? – Anh hỏi.
– An ninh ư? Chúng tôi khóa cửa câu lạc bộ vào lúc nửa đêm. – Thế còn cầu tàu? Những con thuyền? Không có người bảo vệ nào ư? – Chúng tôi chưa từng có vụ đột nhập nào. Các con thuyền đều được khóa kín. Hơn nữa ở đây cũng khá yên tĩnh. Nếu các anh tới bất cứ thành phố nào cũng sẽ thấy người ta ở xung quanh suốt đêm.
Nhưng đây là một câu lạc bộ đặc biệt. Một nơi cách xa tất cả mọi nơi. Một nơi mà các ông có thể lái xe đến cả đêm, Gabriel thầm nghĩ. Các ông có thể quay lại mà chẳng ai nhìn thấy các ông mở cốp xe. Không ai nhìn thấy các ông kéo một thi thể ra và đẩy nó xuống vịnh Hingham cả.
Nếu đúng lúc thủy triều thì cái xác có thể sẽ bị cuốn xa khỏi đất liền, thẳng vào trong vịnh Massachusetts. Nhưng nếu thủy triều không lên thì nó không như thế. Chuông điện thoại của anh chợt kêu. Anh đi cách xa mọi người một chút, đi vài bước xuống cầu tàu rồi mới trả lời điện thoại.
Đó là Maura: – Tôi nghĩ anh phải quay lại đây. Chúng tôi đang chuẩn bị khám nghiệm tử thi rồi. – Tử thi nào? – Viên an ninh trong bệnh viện. – Nguyên nhân cái chết đã rõ rồi đúng không? – Có một câu hỏi khác được đặt ra. – Gì vậy? – Chúng tôi không biết người đàn ông này là ai.
– Thế không ai ở bệnh viện có thể nhận diện được anh ta hay sao? Anh ta là người của họ mà. – Vấn đề là thế. Anh ta không phải là nhân viên bệnh viện. Họ vẫn chưa cởi đồ trên mình tử thi. Gabriel không còn quá lạ lẫm để thấy sợ hãi khi vào phòng khám nghiệm. Cảnh nạn nhân này cũng không có gì quá đặc biệt đến nỗi phải rùng mình cả.
Anh chỉ thấy một vết thương duy nhất trên má trái. Những bộ phận khác đều nguyên vẹn. Người đàn ông chừng 30 tuổi với mái tóc đen được cắt gọn gàng, quai hàm khỏe mạnh. Mắt anh ta màu nâu, giờ trông mờ mờ như mây phủ vì bị không khí tiếp xúc do mi mắt mở. Biển tên đề Perrin được đính ở túi áo ngực của bộ đồng phục.
Nhìn vào bàn mổ Gabriel thấy điểm đáng sợ nhất không phải ánh nhìn vô hồn của anh ta mà là nỗi lo về việc khẩu súng đã giết anh ta giờ đang đe dọa mạng sống của Jane. – Chúng tôi đang đợi anh – Bác sĩ Abe Bristol nói – Maura cho rằng anh muốn xem diễn biến của việc này từ đầu. Gabriel nhìn Maura giờ đã mặc bộ đồ giải phẫu và đeo khẩu trang, đang đứng phía cuối bàn nhưng không phải ở vị trí thường xuyên của cô là bên phải tử thi.
Lần nào vào đây anh cũng thấy cô là người chỉ huy, là người cầm dao. Anh không quen với việc cô chịu sự kiểm soát của người khác trong cái phòng mà cô luôn làm chủ. – Cô không giải phẫu à? – Tôi không thể. Tôi là người đã chứng kiến cái chết của anh ta. Abe sẽ làm. – Cô vẫn không biết anh ta là ai ư? Cô lắc đầu.
– Không có nhân viên bệnh viện nào có tên là Perrin cả. Trưởng ban an ninh cũng đã đến xem cái xác này. Ông ấy không nhận ra anh ta. – Dấu tay thì sao? – Chúng tôi đã gửi mẫu vân tay của anh ta đến phòng phân tích. Tuy nhiên đến giờ vẫn chưa có tin gì. Cả dấu vân tay người đã bắn anh ta cũng thế.
– Vậy là chúng ta có một John Doe và một Jane Doe – Gabriel nhìn cái xác – Những người này là ai vậy không biết? – Cởi đồ của anh ta ra nào? – Abe bảo Yoshima. Hai người đàn ông cởi giầy và tất, tháo dây lưng và kéo quần của anh ta xuống, đặt những thứ ấy trên một tấm vải sạch.
Abe đeo găng tay, lục tìm trong túi quần của anh ta nhưng không có gì. Không lược, không ví, không chìa khóa. – Không có bất cứ thứ gì – Abe ghi nhận. – Anh có nghĩ là cũng nên có vài đồng lẻ trong túi không – Yoshima bảo. – Những cái túi sạch trơn – Abe nhìn lên – Có lẽ một đồng phục mới chăng? Họ chuyển tập trung đến chiếc áo.
Vải áo giờ đóng đầy máu khô. Họ kéo áo, để lộ ra bộ ngực với các cơ bắp và lồng ngực màu đen cả những vết sẹo, một vết sẹo sâu dưới núm vú. Một vết khác kéo dài từ bụng cho tới hông bên trái. – Đây không phải là những vết sẹo để lại sau phẫu thuật – Maura nói khi nhướn người từ chỗ mình đứng.
– Tôi có thể nói chắc là anh chàng này đã tham gia vào trận chiến rồi – Abe bảo – Nó giống như những vết thương do dao gây ra. – Anh có muốn cắt rời tay áo ra không – Yoshima nói. – Không, không cần làm thế. Xoay người anh ta đi. Một hình xăm hiện ra bên vai trái. Maura nghiêng mắt nhìn cho rõ hình xăm đó.
Trông nó rất sống động, còn có thể thấy cả một cái ngòi độc vươn ra. Nó có màu xanh sáng. Những cặp càng kéo dài thẳng hướng cổ. Vòng quanh đuôi là con số 13. – Một con bọ cạp – Maura thì thầm. – Một cái nhãn đẹp, khá ấn tượng đấy nhỉ – Yoshima bảo. – Cái gì cơ – Maura nhướn mày nhìn anh ta.
– Trong quân đội người ta vẫn gọi nó thế mà. “Nhãn nhận diện”. Làm việc trong phòng khám nghiệm này tôi đã có cơ hội nhìn thấy những tác phẩm nghệ thuật thực sự: Rắn hổ mang, nhện độc. Còn có anh chàng xăm tên bạn gái mình lên cả… – Yoshima dừng lại – Cô sẽ không chọc kim khâu vào gần cái của tôi đấy chứ? Họ kéo một ống tay áo khoác, giờ cái xác đã trần hoàn toàn.
Dù vẫn còn trẻ nhưng trên người anh ta đã có rất nhiều vết thương, những vết sẹo và cả những hình xăm. Và giờ là sự xâm phạm cuối cùng. Một vết thương do đạn gây ra trên má trái. Abe di chuyển chiếc kính lúp đến vùng bị thương. – Tôi nhìn thấy một lỗ thương ở đây – Anh liếc nhìn Maura – Rất gần nhau? – Anh ta đang cúi người trên giường cố giữ cô ta thì cô ta nổ súng.
– Chúng tôi xem phim chụp X-quang phần hộp sọ được không? Yoshima lấy tấm phim chụp trong bì đựng rồi treo lên phía hộp đèn. Anh nhìn Maura. – Cậu nói cô ta đã bắn bao nhiêu phát? – Một. – Cậu muốn xem cái này không? Maura lại gần. – Tôi không hiểu. Tôi ở đó khi sự việc xảy ra mà.
– Rõ ràng là có hai viên đạn ở đây. – Tôi biết chính xác là chỉ có một phát súng mà. Abe quay lại bàn, nhìn đầu của tử thi. Đạn xuyên qua đã tạo thành lỗ tròn, ám đen. – Đúng là chỉ có một đường thương. Giả sử có hai phát súng liền nhau thì mới giải thích được về vết thương duy nhất này.
– Nhưng đó không phải điều tôi nghe được, Abe ạ! – Trong lúc hoảng loạn có thể cậu đã không chú ý là có hai phát súng. Ánh mắt cô vẫn tập trung vào phim chụp X-quang. Gabriel chưa bao giờ thấy Maura không chắc chắn về bản thân mình. Thế mà lúc này rõ ràng là cô ấy đang rất băn khoăn, phải đấu tranh giữa những điều cô ấy nhớ và những thứ đang hiện diện trước mắt.
– Hãy miêu tả lại chuyện đã xảy ra trong phòng bệnh đó Maura – Gabriel yêu cầu. – Có ba người chúng tôi cố giữ cô ta. Tôi không trông thấy lúc cô ta lấy súng của viên bảo vệ. Tôi chỉ tập trung vào việc giữ tay cô ta và cố để buộc chặt nó. Lúc tôi với tay lấy cái dây buộc thì súng nổ.
– Thế còn nhân chứng khác thì sao? – Anh ta là một bác sĩ. – Anh ta hiện có nhớ gì không? Một phát hay hai? Cô quay lại gặp mắt mắt Gabriel. – Cảnh sát chưa bao giờ nói chuyện với anh ta. – Sao thế? – Bởi vì chẳng ai biết anh ta là ai – Lần đầu tiên, anh nghe thấy sự lo lắng trong giọng Maura – Dường như tôi là người duy nhất còn nhớ anh ta.
Yoshima tới chỗ điện thoại. – Tôi sẽ gọi cho bên đạn đạo – anh nói – Họ sẽ biết có bao nhiêu vỏ đạn còn ở hiện trường. – Bắt đầu nào – Abe nói và nhặt con dao từ khay dụng cụ. Họ biết quá ít về nạn nhân này. Không tên thật, quá khứ hay bằng cách nào anh ta lại ở vào nơi và thời điểm anh ta chết.
Nhưng sau khi khám nghiệm kết thúc, họ sẽ biết rõ anh ta hơn ai hết. Với vết cắt đầu tiên, Abe làm quen dần. Abe có đôi tay rắn chắc, nhanh nhẹn, anh rạch một đường trên tử thi từ vai xuống tận ổ bụng. Trông anh giống như một anh chàng đồ tể vậy – chẳng có chút gì mềm mại cả.
Anh chàng này có vẻ đã rất chú trọng đến thể chất, các cơ đều rất khoẻ mạnh, rắn chắc. Nhưng tất cả các cơ bắp đều phải khuất phục trước con dao và một bác sĩ phẫu thuật. Abe cắt rời đoạn xương cuối cùng rồi nâng những phần phía trong lên: Cả tim, phổi đều được xem xét cẩn thận.
– Bác sĩ Britol – Yoshima gọi khi vừa cúp máy điện thoại – tôi vừa nói chuyện với bên đạn đạo. Họ nói bên khám nghiệm hiện trường chỉ tìm thấy một vỏ đạn. Abe đứng thẳng người, găng tay đầy máu: – Họ không tìm thấy cái thứ hai à? – Họ nói đấy là tất cả những thứ họ có được.
Chỉ một thôi. – Thì đúng cái tôi nghe thấy mà Abe. Một phát súng – Maura bảo. Gabriel đi đến chỗ treo tấm phim. Anh nhìn chăm chú. Một phát súng, hai viên đạn, anh nghĩ. Điều này có thể làm thay đổi mọi thứ. Anh quay lại nhìn Abe. – Tôi cần xem những viên đạn đó. – Anh định tìm ra điều gì đặc biệt sao? – Tôi nghĩ tôi biết tại sao lại có hai viên.
Abe gật đầu. – Đợi tôi làm xong đã. Nói rồi anh cắt rời tim và phổi nạn nhân để ra ngoài để lát nữa cân và nghiên cứu. Sau đó thì tiếp đến vùng bụng. Mọi thứ trông đều bình thường. Nội tạng khỏe mạnh của một người đàn ông đã hàng thập kỷ chú ý chăm sóc bản thân.
Cuối cùng anh ta chuyển đến phần đầu. Gabriel đứng yên nhìn Abe rạch dao vào lớp da đầu, kéo xuống phủ cả mặt tử thi, để lộ ra hộp sọ. Yoshima dùng cưa cưa hộp sọ, đường xẻ dần để lộ ra phần phía trong vỏ sọ. Abe dùng dụng cụ gắp đạn trong khi Gabriel cầm một cái chậu nhỏ, sẵn sàng cho anh ta bỏ viên đạn đầu tiên vào.
Anh lấy chiếc kính lúp soi lại gần rồi bảo: – Tôi cần nhìn viên kia – Gabriel nói. – Anh đang nghĩ gì vậy mật vụ Dean? – Chỉ cố tìm viên đạn kia thôi. Yêu cầu của anh làm mọi người ngạc nhiên, Abe và Maura nhìn nhau. Abe không kiên nhẫn thêm được nữa mà cần biết luôn. Abe đặt phần não bộ xuống, dùng tia X rồi chỉ vào vị trí của viên đạn thứ hai.
Với miếng cắt đầu tiên anh đã tìm thấy viên đạn kia bị một túi mô che khuất. – Anh đang tìm gì? – Abe hỏi khi thấy Gabriel dùng kính lúp săm soi viên đạn. – Cùng cỡ khoảng 80 gram. – Chúng phải giống nhau chứ. Chúng được bắn ra từ cùng một khẩu súng mà. – Nhưng không y hệt nhau.
– Gì cơ? – Nhìn viên thứ hai kìa. Nó bị che nhưng vẫn có thể nhìn được. Abe ngả về phía trước, cau mày nhìn qua ống kính. – Nó có lệch một chút. – Chính xác. Đó là một góc lệch. – Sự va chạm có thể làm biến dạng nó. – Không, nó vốn như thế này. Một cú bắn nghiêng một góc 9 độ để làm chệch quỹ đạo so với cái đầu tiên một chút xíu.
Maura đang nhíu mày nhìn ảnh chụp X-quang hộp sọ đang ghim trên hộp sáng. Rồi cô nhìn hai viên đạn, đang sáng lấp lánh trên nền mờ đục của vỏ hộp sọ. Bất chợt cô nói: – Đạn kép. – Đó là lý do vì sao cô chỉ nghe thấy có một tiếng súng – Gabriel nói – Vì chỉ có một phát đạn.
Maura yên lặng một lúc, vẫn tập trung nhìn hình chụp. Luôn sắc nét như mọi lần, nhưng lần này tia X-quang đã không thể tiết lộ ra dấu vết của sự phá hủy mà hai viên đạn còn để lại trong mô. Vì mạch máu đã bị vỡ, chất xám bắn tung tóe. Thứ lưu giữ ký ức của con người đã phụt ra như dung nham núi lửa.
– Những viên đạn kép luôn được thiết kế để gây ra những thương tổn nặng nề nhất – cô nói. – Đó là ưu điểm của nó. – Kiểu đạn này chỉ có trong quân đội, dùng để sát thương chính xác hơn. Nạn nhân sẽ có rất ít cơ hội sống – Gabriel giải thích. – Tại sao một nhân viên an ninh lại trang bị một thứ vũ khí như thế chứ? – Tôi nghĩ chúng ta đều đã biết người này không phải nhân viên của bệnh viện.
Anh ta vào đó trong một bộ đồng phục giả, một biển tên giả và một khẩu súng không phải để bảo vệ mà để giết người. Chỉ có một lý do duy nhất tôi có thể dùng để giải thích điều này. Maura nói nhẹ. – Cô gái kia phải chết. Không ai nói gì. Giọng cô thư ký của Maura vang lên phá tan sự im lặng.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.