Con Trai Của Bình Minh

CHƯƠNG 1



27 tháng Tư, 1996
Một tiếng gầm trầm trầm thông báo cho khu phố biết rằng Kristian Sieber đã đi học về. Cậu ta lái một chiếc Chevelle 1966, đã được âu yếm khôi phục tất cả sức mạnh tám xi-lanh ngốn xăng của nó. Thân xe là một sự kết hợp nhiều màu sắc, vì các phần của nó đã được ghép lại từ những xác xe Chevelle khác nhau, nhưng bất kể khi nào có ai đó bình luận về màu sắc lộn xộn của chiếc xe, Kristian sẽ gắt gỏng nói rằng cậu ta “đang sửa.” Sự thực là cậu ta chẳng thèm để tâm đến vẻ ngoài của nó. Cậu ta chỉ quan tâm làm sao chiếc xe chạy đúng như khi nó còn mới toanh, khi một tay nam nhi may mắn nào đó làm mọi cô gái ở quanh đều phải phát run vì tiếng gầm động cơ của nó. Theo cách nghĩ bản năng, đơn giản và lạc hậu của cánh đàn ông, cậu ta chắc chắn rằng đám mã lực ấy sẽ gạt bỏ được hình ảnh mọt sách của cậu ta, và tất cả các cô gái sẽ ùa về phía cậu, vì muốn được ngồi trên chiếc siêu xe ấy. Từ trước đến giờ chuyện đó chưa xảy ra, nhưng Kristian còn chưa thôi hi vọng.
Khi chiếc xe ồn ào lái qua nhà nàng và rẽ ở góc phố, Grace St. John[1] vội vã ăn miếng thịt hầm cuối cùng nàng đã làm cho bữa tối. “Kristian về rồi,” nàng nói, nhảy ra khỏi bàn.
“Không đùa chứ[2],” Ford trêu. Anh nháy mắt với nàng khi nàng chộp lấy cặp đựng laptop và một đống giấy tờ nàng đang dịch. Hai bên chiếc cặp phình ra vì đầy chặt những ghi chú và đĩa mềm. Lúc nãy nàng đã tháo cái modem ra, quấn dây quanh nó rồi đặt nó lên trên chiếc cặp. Nàng ôm chiếc cặp và modem trong tay khi nàng cúi xuống vươn tới miệng Ford. Nụ hôn của họ ngắn ngủi, nhưng ấm áp.
“Có thể mất vài giờ đấy, ít nhất là thế,” nàng nói. “Sau khi cậu ta tìm ra vấn đề là gì, cậu ta sẽ muốn chỉ cho em xem vài phần mềm mới của cậu ta.”
“Trước thì là các bản khắc,” anh trai Bryant của nàng lẩm bẩm. “Giờ thì là các chương trình.” Ba người bọn họ ăn hầu hết các bữa tối cùng nhau, một sự thuận tiện mà cả ba đều thích. Khi Bryant và Grace được thừa hưởng ngôi nhà từ cha mẹ họ, họ đã biến nó thành một căn hộ đôi; Grace và Ford sống ở một bên, và Bryant ở bên kia. Ba người họ không chỉ làm việc cho cùng một tổ chức khảo cổ, mà Ford và Bryant còn là bạn thân từ hồi đại học. Bryant đã giới thiệu Ford với Grace, và vẫn còn huênh hoang vì kết quả của cuộc giới thiệu ấy.
“Anh chỉ ghen tị bởi vì anh không thể hack được nó,” Grace nói, làm mặt hề, và Bryant ca cẩm vì trò chơi chữ.[3]
Vì hai bàn tay nàng đã bận, nên Ford đứng dậy mở cửa bếp cho nàng. Anh cúi xuống hôn nàng lần nữa. “Đừng mải mê với các chương trình của Kristian quá mà quên mất thời gian,” anh cảnh báo, đôi mắt nâu của anh gửi cho nàng một thông điệp riêng mà sau gần tám năm hôn nhân vẫn còn làm nàng run rẩy tới tận ngón chân.
“Không đâu,” nàng hứa, rồi bắt đầu bước ra, chỉ để dừng lại nơi ngưỡng cửa. “Em quên ví rồi.”
Ford nhặt nó từ trên tủ bếp và vòng dây đeo quanh đầu nàng. “Sao em lại cần ví?”
“Trong đó có cuốn séc,” nàng nói, thổi một lọn tóc bay khỏi mắt nàng. Nàng luôn luôn trả tiền cho những lần giúp đỡ của Kristian, mặc dù cậu ta sẽ vui vẻ làm miễn phí cho nàng chỉ vì niềm vui được quẩn quanh chiếc máy tính của người khác.
Những thiết bị của cậu ta rất đắt tiền, và khả năng của cậu ta thì tốt hơn bất kì công ty máy tính hay phần mềm nào nàng biết. Cậu ta đáng được nhận thù lao. “Thêm nữa có thể em sẽ mua cho cậu ta một cái pizza.”
“Nếu mà chúng ta ăn như thằng nhóc đó thì phải nặng đến bốn trăm pound (180kg) rồi ấy,” Bryant nhận xét.
“Cậu ta mười chín. Tất nhiên là phải ăn nhiều rồi.”
“Anh không nghĩ anh từng ăn nhiều thế. Cậu nghĩ sao, Ford? Khi bọn mình học đại học, mình có ăn nhiều như Kristian không?”
Ford dành cho anh cái nhìn không tin nổi. “Cậu hỏi tớ ấy hả, trong khi cậu là gã đã từng ăn sáng bằng mười ba cái bánh kếp và một pound (450g) xúc xích?”
“Thế cơ á?” Bryant nhíu mày. “Tớ không nhớ vụ đó. Còn cậu thì sao hả? Tớ đã trông thấy cậu hạ một lần bốn cái Macs và bốn xuất khoai tây chiên cỡ bự thì sao.”
“Cả hai anh đều ăn như là bị bệnh sán ấy,” Grace nói, giải quyết vụ tranh luận khi nàng bước xuống bậc thềm. Ford đóng cánh cửa phía sau nàng, tiếng cười rúc rích của anh vẫn còn vang trong tai nàng.
Lớp cỏ dầy, đàn hồi làm êm tiếng bước chân của nàng khi nàng bước qua vườn sau nhà họ, rồi rẽ vào lối đi tắt ngang qua hàng rào cỏ tươi tốt của nhà Murchison. Họ đã đi nghỉ một tháng ở Nam Carolina, và sẽ không về tới tận cuối tuần này. Thật là đáng xấu hổ; khi tìm kiếm không khí ấm áp và mùa xuân, vì họ đã bỏ lỡ nó ở nhà mình.
Đó là một tháng Tư ấm áp khác thường, và mùa xuân đã về trên Minneapolis. Cỏ xanh hơn và tươi tốt hơn, lá cây đâm chồi, hoa đua nở. Mặc dù mặt trời đã lặn và chỉ còn lại những tia sáng cuối cùng của buổi chạng vạng, không khí buổi tối vẫn ấm áp và ngát hương. Grace hít vào với niềm vui sâu sắc. Nàng yêu mùa xuân. Thực ra, nàng yêu tất cả các mùa, vì mỗi mùa đều có niềm vui riêng.
Kristian đứng ở cửa sau nhà Sieber, đang chờ nàng. “Hi,” cậu ta nói bằng giọng vui vẻ chào mừng. Cậu ta luôn vui mừng trước viễn cảnh được thọc tay vào laptop của nàng.
Cậu ta còn chưa bật đèn. Grace bước vào qua căn phòng giặt tối đen, đi ngang qua bếp. Audra Sieber, mẹ của Kristian, đang trượt một khay bánh mỳ vào trong lò. Bà nhìn lên với một nụ cười. “Chào Grace. Tối nay bọn cô có món sườn cừu; muốn ăn cùng không?”
“Cám ơn, nhưng cháu vừa mới ăn xong.” Nàng thích Audra, một phụ nữ ngoài năm mươi, hơi quá cân, và hoàn toàn hiểu nỗi ám ảnh của cậu con trai với gigabytes và bảng mạch. Về hình dáng, Kristian giống hệt Errol, cha cậu: cao, gầy, tóc đen, mắt xanh bị cận, và cục yết hầu nổi bật trên cần cổ. Kristian không thể nào giống một con mọt máy tính hơn được nữa dù cậu ta có khắc chữ ấy lên trán.
Nhớ tính háu ăn của cậu ta, Grace nói, “Kris, việc này có thể chờ đến lúc em ăn xong.”
“Em sẽ lấy một đĩa và mang lên gác,” cậu ta nói, đỡ chiếc cặp từ tay nàng và âu yếm ôm nó trong tay. “Thế cũng được phải không mẹ?”
“Tất nhiên. Cứ lên gác vui vẻ đi con.” Audra dành nụ cười điềm đạm của bà cho cả hai người, và Kristian lập tức chuồn khỏi bếp để lên lầu, mang theo phần thưởng lên hang ổ chất đầy đồ điện tử của cậu ta.
Grace chậm rãi bước theo cậu, vừa đi lên cầu thang vừa nghĩ rằng nàng thực sự cần phải giảm bớt hai mươi pound thừa mà nàng đã có thêm kể từ khi lấy Ford. Vấn đề là, công việc của nàng phải ngồi quá nhiều; với tư cách là một chuyên gia và dịch giả các ngôn ngữ cổ, nàng phải dành rất nhiều thời gian với chiếc kính lúp để săm soi bản sao của những tài liệu cổ, và thường xuyên là chính những tài liệu cổ ấy, vì phần lớn chúng đều quá mong manh khó xử lý. Phần còn lại nàng làm việc trên máy tính, sử dụng một phần mềm dịch thuật mà nàng và Kristian đã phát triển. Thật khó để đốt được nhiều calo trong lúc làm công việc trí óc.
Trong ngày hôm nay nàng đã đang làm chính cái việc đó, cố gắng truy cập vào thư viện của trường đại học để tải về vài thông tin, thì chiếc máy tính không chịu tuân lệnh của nàng. Nàng không chắc là bản thân chiếc laptop có vấn đề, hay là modem có vấn đề. Nàng đã gặp được Kristian lúc cậu về nhà ăn trưa, và sắp xếp để cậu xem nó cho nàng lúc tan học về.
Việc chậm trễ khiến nàng gần điên đầu vì sốt ruột. Nàng đang bị cuốn hút vào một tập tài liệu nàng đã bắt đầu dịch cho người thuê nàng, Tổ chức Amaranthine Potere, một tổ chức khảo cổ học và chứng tích lớn. Dù thế nào nàng cũng rất yêu công việc của mình, nhưng lần này rất đặc biệt, quá đặc biệt đến nỗi nàng gần như sợ phải tin rằng những gì nàng đã dịch là đúng. Nàng cảm thấy gần như bị… lôi kéo, chìm đắm vào trong tập tài liệu theo một cách chưa từng có. Đêm trước, Ford đã hỏi nàng tập tài liệu có gì, và nàng đã rụt rè kể anh nghe một chút về chúng – chỉ là phần chủ đề. Thông thường nàng thoải mái nói với Ford về công việc của nàng, nhưng lần này lại khác. Nàng có cảm giác mạnh mẽ về những tài liệu cổ xưa lạ lùng này đến nỗi khó mà cất thành lời, và vì thế nàng đã hơi hạ thấp mọi thứ, như thể nó không là gì đặc biệt thú vị.
Ngược lại, nó… cực kì đặc biệt, theo những cách mà nàng còn chưa hoàn toàn hiểu rõ. Nàng mới dịch được chưa tới một phần mười, vậy mà những khả năng đã khiến nàng phát điên vì dự đoán, quay cuồng không hiểu nổi, giống như một bức tranh ghép hình phức tạp mới chỉ ghép được phần ngoài rìa. Mặc dù trong trường hợp này nàng không hề biết sản phẩm cuối cùng sẽ như thế nào, chỉ biết rằng nàng không thể ngừng lại cho đến khi nàng biết.
Nàng lên đến bậc thang trên cùng và vào trong phòng Kristian. Đó là một mê cung gồm các thiết bị điện tử và dây nhợ, chỉ chừa lại chỗ vừa đủ cho chiếc giường của cậu ta. Cậu ta có bốn đường điện thoại riêng, ba đường gắn với một chiếc laptop và hai chiếc máy tính, và một đường khác gắn với máy fax. Hai máy in chia sẻ nhiệm vụ giữa ba chiếc máy tính. Một trong hai máy bàn vẫn bật, với một ván cờ vua hiện trên màn hình. Kristian liếc nhìn vào nó, gầm gừ, và dùng con chuột di chuyển một quân tượng. Cậu ta quan sát kết quả một lúc, trước khi kích vào con chuột và trở lại với đống lộn xộn trước mắt. Cậu ta gạt đống giấy tờ sang một bên và để đống kia lên trên giường. “Nó đang làm gì?” cậu ta hỏi khi mở cặp và lấy laptop của nàng ra.
“Không làm gì cả,” Grace nói, ngồi xuống một chiếc ghế khác và theo dõi cậu ta nhanh chóng tháo những dây cáp trung tâm của một chiếc máy bàn khỏi cổng nguồn và modem và cắm vào máy nàng. Cậu ta bật nó lên và nó liền khởi động, màn hình sáng lên màu xanh nhạt. “Sáng nay chị đang cố vào trang thư viện của trường, nhưng không được. Chị không biết là do máy hỏng hay modem hỏng.”
“Giờ chúng ta sẽ biết ngay thôi.” Cậu ta rành rẽ menu của nàng như chính nàng vậy; cậu ta kích vào cái mình muốn, rồi kích đúp vào biểu tượng điện thoại. Cậu ta đang gọi vào số của thư viện điện tử của trường đại học, và mười giây sau thì vào được. “Tại modem,” cậu ta tuyên bố. Nhưng ngón tay gần như run rẩy khi nó lướt trên bàn phím. “Chị muốn tìm gì?”
Nàng cúi lại gần hơn. “Lịch sử Trung Cổ. Cụ thể là cuộc Thập tự chinh.”
Cậu ta cuốn màn hình xuống theo danh sách các địa chỉ hiện ra. “Cái đó,” Grace nói, và cậu ta kích chuột. Bảng mục lục hiện đầy màn hình.
Cậu ta tránh ra xa. “Đây, chị tự xem trong lúc em cố tìm hiểu xem modem của chị bị hỏng sao.”
Nàng chiếm chỗ của cậu ta trước mặt máy tính, và cậu ta bật một chiếc đèn bàn, lơ đãng đẩy kính lên trên sống mũi trước khi bắt đầu tháo chiếc modem.
Chú thích:
[1] Một cái tên lạ nhưng là do tác giả cố tình. Grace = Hồng ân của Chúa, St. John = Tháng Giăng (trong kinh thánh có một sách của Giăng)
[2] Mình nghĩ chỗ “đáng đùa” ở câu này là vì tên Kristian là cách viết khác của Christian (Jesus Christ), khi Grace nói Kristian’s home thì giống như nói “Chúa Jesus đã về” cho nên Ford mới trêu.
[3] Vì Bryant là nhà khảo cổ học nên việc của anh ta là “đào xới, truy cập” vào mọi thứ. Từ hack vừa có nghĩa truy cập (trong máy tính) vừa có nghĩa đào xới.
Có vài sách tham khảo về những tổ chức quân sự tôn giáo thời bấy giờ, các Hiệp sĩ Hospitaller[1] và các Hiệp sĩ Thánh chiến. Nàng muốn tìm hiểu về các Hiệp sĩ Thánh chiến[2]. Nàng kích vào mục tương ứng, và những dòng thông tin lấp đầy màn hình.
Nàng chăm chú đọc, tìm kiếm một cái tên cụ thể. Nó không xuất hiện. Những dòng chữ là một bản biên niên sử và phân tích về đóng góp của các Hiệp sĩ thánh chiến với cuộc Thập tự chinh, nhưng trừ vài vị Đại Giáo Trưởng không có cái tên nào được nhắc tới nữa.
Họ bị xen ngang một lát khi bà Audra mang một đĩa đầy thức ăn lên cho Kristian. Cậu ta đặt nó ngay cạnh cái modem bị mở toang và vừa vui vẻ ăn nhồm nhoàm vừa làm việc. Grace trở lại mục lục chính và chọn một tài liệu khác.
Một lúc sau nàng phát hiện ra rằng Kristian hoặc đã sửa xong cái modem cho nàng hoặc đã từ bỏ, bởi vì cậu ta đang đọc qua vai nàng. Thật khó để kéo nàng ra khỏi những mưu đồ và mối hiểm nguy trong thời kì Trung Cổ, để trở lại với thế giới điện toán hiện đại. Nàng chớp mắt để định hướng cho bản thân, nhận thức được sức quyến rũ đầy ma lực một cách kì lạ của thời đại xa xưa ấy. “Em sửa được không?”
“Chắc rồi,” cậu ta lơ đãng trả lời, vẫn còn đang đọc. “Chỉ là một mối hàn bị lỏng thôi. Mấy gã Hiệp sĩ Thánh chiến này là ai vậy?”
“Họ là một tổ chức quân sự tôn giáo trong thời Trung Cổ; em không biết lịch sử của em sao?”
Cậu ta đẩy cặp kính lên mũi và cười toe toét với nàng. “Thời gian chỉ bắt đầu từ năm 1946[3].”
“Còn có cuộc sống trước cả các máy tính nữa chứ.”
“Ý chị là cuộc sống cơ học chứ gì. Thời kì tiền sử.”
“Thế những thiết bị đo trong cái thứ giật tung người mà em gọi là ô tô đấy thì là gì?”
Trông cậu có vẻ chán nản, chợt nhận ra một cách xấu hổ rằng chiếc xế hộp yêu quý của cậu lạc hậu hết thuốc chữa, với những thiết bị cơ học thay vì màn hình kĩ thuật số. “Em còn đang sửa,” cậu ta lẩm bẩm, hơi khom tấm lưng gầy. “Dù sao, mấy gã Hiệp sĩ này là thế nào. Nếu họ sùng đạo đến thế, sao lại bị thiêu sống trên cọc như là phù thuỷ hay cái gì gì đó?”
“Dị giáo,” nàng lẩm bẩm, quay trở lại với màn hình. “Lửa là hình phạt cho rất nhiều tội ác, không chỉ cho các trò phù thuỷ.”
“Đoán là người thời đó coi trọng tín ngưỡng của họ lắm.” Kristian chun mũi trước hình ảnh man rợ mô tả ba người đàn ông bị trói vào một chiếc cọc trong khi ngọn lửa liếm quanh đầu gối của họ. Cả ba người đàn ông đều mặc những bộ chùng màu trắng với hình thập tự trang trí trên ngực. Miệng họ là những hố sâu tối đen, mở ra để gào thét đau đớn.
“Ngày nay người ta vẫn bị hành hình vì tôn giáo,” Grace nói, hơi rùng mình một chút khi nàng nhìn chằm chằm vào bức tranh nhỏ, tưởng tượng nỗi kinh hoàng của việc bị thiêu sống. “Trong thời Trung Cổ, tôn giáo là trung tâm cuộc sống của tất cả mọi người, và bất kì ai chống lại nó đều là một mối đe doạ với họ. Tôn giáo cho họ những qui tắc văn minh, nhưng nó còn hơn cả thế. Có quá nhiều sự việc còn chưa được biết đến, hay chưa hiểu được; họ sợ nhật thực, sợ sao chổi, sợ bệnh tật tấn công bất ngờ, sợ những thứ mà ngày nay chúng ta biết là bình thường nhưng họ thì không cách nào hiểu được. Tưởng tượng xem với họ bệnh viêm ruột thừa, hay nhồi máu cơ tim đáng sợ đến đâu, thậm chí còn gây chết người. Họ không biết chuyện gì đang xảy ra, cái gì đã gây ra, hay làm cách nào để ngăn chặn nó. Ma thuật là một thứ rất thực với họ, và tôn giáo cho họ cái gọi là sự bảo vệ chống lại những lực lượng vô hình, đáng sợ đó. Thậm chí nếu họ chết, Chúa sẽ vẫn tiếp tục chăm sóc họ, và những linh hồn ma quỷ sẽ không chiến thắng.”
Lông mày cậu ta nhíu lại với nhau trong lúc cố tưởng tượng cuộc sống trong thời đại ngu dốt hủ lậu như thế. Với đứa trẻ của thời đại máy tính này, việc đó gần như là ngoài tầm nhận thức của cậu ta. “Em đoán truyền hình hẳn sẽ làm họ nhảy lên hử?”
“Đặc biệt là khi họ xem một chương trình trò chuyện,” nàng lẩm bẩm. “Giờ có rất nhiều linh hồn ma quỷ.”
Kristian cười khúc khích, làm cho cặp kính trượt xuống mũi cậu. Cậu đẩy chúng lên lần nữa và liếc mắt về phía màn hình. “Chị tìm được cái chị cần không?”
“Không. Chị đang tìm những ghi chép về một Hiệp sĩ Thánh chiến cụ thể – ít nhất chị nghĩ ông ta là một Hiệp sĩ Thánh chiến.”
“Có tham chiếu chéo nào để kiểm tra không?” Nàng lắc đầu. “Chị không biết họ của ông ta.” Niall của Scotland. Nàng đã tìm thấy tên ông ta vài lần trong những phần tài liệu viết bằng tiếng Pháp cổ. Tại sao họ của ông ta lại không được ghi lại, trong một thời đại mà gia đình và phả hệ quá quan trọng đến như vậy? Từ những gì nàng lượm lặt được từ bản dịch của nàng cho tới bây giờ, ông ta đã là một người đặc biệt quan trọng với các Hiệp sĩ Thánh chiến, bản thân là một Hiệp sĩ, tức là ông ta phải xuất thân danh gia vọng tộc chứ không phải là một nông nô. Một phần của tài liệu bằng tiếng Gaelic, càng củng cố thêm mối dây liên hệ chưa rõ với Scotland. Nàng đã đọc về lịch sử Scotland trong từ điển bách khoa của nàng, nhưng không hề có gì nhắc nhở đến ông Niall bí ẩn này chút nào, chứ chưa nói đến trong khung thời gian của các Hiệp sĩ Thánh chiến.
“Vậy thì ngõ cụt rồi,” Kristian vui vẻ nõi, rõ ràng quyết định là họ đã phí đủ thời gian vào một người đã chết thậm chí trước cả thời đại cơ khí. Đôi mắt xanh của cậu ta lấp lánh khi di chuyển chiếc ghế của mình lại gần hơn một chút. “Muốn xem chương trình kế toán rất tuyệt mà em mới làm ra không?”
“Chị không nghĩ từ rất tuyệt và kế toán đi chung với nhau,” Grace bình luận, giữ khuôn mặt mình trơ trơ.
Bị sốc, Kristian nhìn chằm chằm vào nàng. Cậu ta chớp mắt vài lần, làm cho cậu ta trông như một con sếu cận thị. “Chị đùa phải không?” cậu ta thốt lên. “Nó cực đỉnh! Chờ tới khi chị thấy – chờ đã. Chị đang đùa. Em biết mà.”
Môi Grace cong lên khi nàng êm ái gõ các phím, thoát khỏi hệ thống thư viện trường. “Ô, thế á? Như thế nào?”
“Chị luôn luôn mím chặt môi để ngăn không cười.” Cậu ta liếc xuống miệng nàng, rồi nhanh chóng nhìn đi chỗ khác, hơi đỏ mặt một chút.
Grace cảm thấy má mình cũng nóng lên và cẩn thận dán mắt vào màn hình. Kristian hơi hơi phải lòng nàng, chủ yếu là vì lòng nhiệt thành của cậu ta với chiếc laptop cấu hình mạnh, đắt tiền của nàng, nhưng trong vài dịp hiếm hoi cậu ta cũng nói hay làm việc gì đó cho thấy sự nhận thức về thân thể nàng.
Việc đó luôn làm nàng bối rối; nàng đã ba mươi tuổi, vì Chúa, và chắc chắn không phải là một phụ nữ hấp dẫn chết người theo bất kì sự tưởng tượng nào. Nàng tự xem mình rất bình thường, không có gì ở nàng kích thích dục vọng nơi một cậu thanh niên mười chín tuổi đầu – mặc dù có Chúa biết, gần như bất kì cái gì thuộc nữ giới và còn thở đều có thể khơi dậy dục vọng nơi một cậu thanh niên mười chín tuổi. Nếu như Kristian là khuôn mẫu điển hình của một con mọt máy tính, thì nàng luôn nghĩ vẻ ngoài của nàng là của dạng trí thức điển hình: tóc nâu đậm, thẳng đuồn đuột đến nỗi từ lâu nàng đã bỏ nỗ lực làm xoăn và giờ chỉ còn kéo ra đằng sau tết lại thành bím thật dày; mắt xanh nhạt, gần như xám, thường thường đeo một cặp kính đọc sách; không trang điểm, bởi vì nàng không biết làm sao để trang điểm; quần áo thực dụng, thường là quần nhung hoặc váy bằng vải din. Nàng không thể là đối tượng của những giấc mơ gợi dục.
Nhưng Ford đã luôn nói rằng nàng có đôi môi đáng hôn nhất mà anh từng thấy, và nàng thấy xấu hổ vì Kristian đã nhìn rất chăm chú vào môi nàng. Để làm cậu ta sao lãng, nàng nói, “Okay, hãy đi xem chương trình hay ho này nào.” Nàng hi vọng chiếc Chevelle sẽ nhanh chóng thực hiện phép màu của nó, và lùa vào trong mắt Kristian một cô gái thông minh nào đó thích cả mã lực và máy vi tính.
Trông có vẻ biết ơn về sự chuyển đề tài này, cậu ta mở một hộp nhựa ra và lấy một chiếc đĩa mềm, rồi cho nó vào trong ổ đĩa. Grace tránh sang bên để cho cậu ta dễ gõ bàn phím hơn. Cậu ta chỉ cho máy truy cập vào ổ A, có tiếng kêu ro ro, và một menu hiện ra trên màn hình. (giờ đọc lại mấy cái thao tác từ hồi máy tính thô sơ thế này thấy kì kì sao ta)
“Chị dùng ngân hàng nào?” Kristian hỏi. Grace nói tên cho cậu ta, nhíu mày khi nàng nhìn xuống dưới menu. Kristian kéo con trỏ vào mục cậu ta muốn, kích vào nó, và màn hình lại thay đổi. “Bingo,” cậu ta la lên khi một menu mới xuất hiện, lần này là các dịch vụ của ngân hàng. “Em có giỏi không, hử?”
“Em đang phạm pháp, đó là việc em đang làm!” Kinh hoàng, Grace theo dõi cậu ta chọn một mục khác, kích vào đó, rồi gõ “St. John, Grace” vào. Ngay lập tức một ghi chép về các giao dịch tài khoản séc của nàng hiện lên trên màn hình. “Em đang hack mạng máy tính của ngân hàng! Ra khỏi đó ngay trước khi em gặp rắc rối lớn. Chị bảo ra ngay, Kris! Đây là trọng tội đấy. Em bảo chị là em có một chương trình kế toán, chứ không phải là một cửa sau để vào mọi ngân hàng trong khu vực này.”
“Chị không muốn biết em làm thế nào à?” cậu ta hỏi, rành rành thất vọng vì nàng đã không chia sẻ sự thích thú với trò ma mãnh này. “Em không ăn trộm hay gì cả. Cái này sẽ cho chị xem mỗi tấm séc cần bao lâu mới được thanh toán, để chị có thể lập một khung thời gian. Vài nơi chỉ nhận tiền một tuần một lần. Chị có thể kiểm soát dòng tiền mặt của mình tốt hơn nếu chị biết mỗi tấm séc cụ thể cần bao lâu mới được thanh toán. Bằng cách đó, nếu chị có một tài khoản séc chịu lãi, chị có thể điều chỉnh thời gian chi trả của mình để cho số dư trung bình của chị không bao giờ dưới mức tối thiểu.”
Grace chỉ đơn giản nhìn chằm chằm vào cậu ta, kinh ngạc trước cách bộ não cậu ta làm việc. Với nàng, các vấn đề về tiền nong rất dễ hiểu: bạn thu vào số tiền X, và bạn phải giữ các chi phí của mình dưới con số đó. Đơn giản. Từ lâu nàng đã quyết định có hai loại người trên trái đất: những con người toán học, và những con người phi toán học. Nàng là một phụ nữ thông minh; nàng đã có bằng Tiến sĩ. Nhưng sự phức tạp của toán, dù là liên quan tới tài chính hay vật lý lượng tử, đơn giản là không bao giờ hấp dẫn với nàng. Từ ngữ, chà… nàng hân hoan trong từ ngữ, đầm mình hết mức trong những sắc thái ý nghĩa, vui sướng trong ma thuật của chúng. Ford thậm chí còn ít quan tâm tới toán học hơn nàng, đó là lý do vì sao nàng quản lý cuốn sổ séc. Bryant đã cố gắng; anh đọc phần tài chính trong các tờ báo, mua dài kì tạp chí đầu tư – trong trường hợp có lúc nào anh đủ tiền để đầu tư – nhưng anh không thực sự ham thích với chúng. Sau mười lăm phút ngụp lặn trong những tạp chí đầu tư của mình, anh sẽ vứt nó sang một bên và với tới cái gì đó, bất kể cái gì, viết về khảo cổ học.
Nhưng Kristian là một con người toán học. Grace không nghi ngờ gì việc cậu ta sẽ thành tỷ phú vào tuổi ba mươi. Cậu ta sẽ viết một chương trình phần mềm tuyệt vời nào đó, đầu tư một cách khôn ngoan để kiếm lời, và nghỉ hưu một cách hạnh phúc để lao vào những chương trình sáng tạo hơn.
“Chị chắc nó sẽ là một lợi ích thực sự đối với những người gửi tiền,” nàng nói khô khan, “nhưng cái này bất hợp pháp. Em không thể rao bán nó.”
Chú thích:
[1] Knights of Hospitaller: các hiệp sĩ thuộc giáo phái Hospital of St.John được thành lập thế kỉ XI để chăm sóc cho những người hành hương bị thương trên đường trở về từ Jerusalem.
[2] Đội quân gồm các hiệp sĩ khắp Châu Âu được thành lập thế kỉ XI để chiếm đóng JerusalemJerusalem của người Hồi giáo. Họ mang hình thập tự trên chiến bào của mình nên được gọi là Các hiệp sĩ thập tự, và cuộc chiến đấu của họ gọi là cuộc Thập tự chinh. Tên gọi Hiệp sĩ Thánh chiến là do họ tự gọi mình, vì cho rằng việc chiếm đóng là cuộc chiến vì Chúa của họ.
[3] Chắc là thời gian chiếc máy tính đầu tiên ra đời
“Ồ, nó không phải để tung ra công khai, chỉ để chơi chơi thôi. Chị sẽ nghĩ đáng lẽ các ngân hàng phải có hệ thống bảo mật tốt hơn, nhưng em chưa tìm thấy một cái nào thực sự là thử thách.”
Grace tựa cằm lên tay và nhìn cậu ta. “Nhóc ơi, hoặc em sẽ nổi tiếng, hoặc sẽ vào tù.”
Cậu ta cúi đầu, cười toe toét. “Em còn có thứ khác cho chị xem,” cậu ta nhiệt tình nói, những ngón tay lia qua bàn phím khi thoát khỏi các ghi chép kế toán của ngân hàng.
Grace nhìn theo khi màn hình nhanh chóng thay đổi, chuyển từ mục này sang mục khác. “Họ có thể biết em đã vào trong hồ sơ của họ không?”
“Không với cái này. Nhìn này, em đã vào bằng một mật khẩu chuẩn. Về cơ bản, em đã khoác vào tấm lông cừu điện toán, và họ sẽ không bao giờ biết có một con sói đang lùng sục xung quanh.”
“Làm sao em lấy được mật khẩu?” “Rình mò. Bất kể thông tin được mã hoá thế nào, cũng luôn có một cửa sau. Không có nghĩa là ngân hàng có hệ thống bảo mật tốt lắm đâu,” cậu ta nói với sự không bằng lòng rõ ràng. “Nếu em là chị, em sẽ cân nhắc chuyển tài khoản đi.”
“Chị sẽ nghĩ về việc đó,” nàng đảm bảo với cậu ta, với một cú lườm đe doạ làm cho cậu ta lại cười toe toét.
“Đó chỉ là một phần của chương trình thôi. Đây mới là hệ thống kế toán.” Cậu ta kéo một màn hình khác lên và ra hiệu cho Grace tới gần hơn. Nàng ngoan ngoãn kéo ghế lên trước mấy phân, và cậu ta lao vào đứa con phần mềm phức tạp của mình. Grace tập trung chú ý, bởi vì nàng có thể dễ dàng thấy rằng đây là một hệ thống rất tốt, bề ngoài thì rất dễ thao tác. Cậu ta đã thiết kế để nó so sánh các thu chi hiện tại với thu chi trong quá khứ của cùng một tài khoản, để nếu ai đó vô tình gõ $115 thay vì $15 chẳng hạn, chương trình sẽ báo động với người dùng số tiền không nằm trong phạm vi đã thiết lập từ trước, và kiểm tra xem có bị nhập nhầm số không.
“Chị thích nó,” nàng đùa. Nàng đã luôn trả các hoá đơn và làm việc kế toán theo cách cũ, bằng tay và trên giấy trắng mực đen. Tuy nhiên, nàng hoàn toàn thoải mái với máy tính, vì thế không lý do gì nàng không làm những việc tính toán tài chính trong gia đình trên máy cả.
Kristian sáng mắt lên. “Em biết chị sẽ thích mà.” Những ngón tay dài của cậu gõ vào phím, tải chương trình vào ổ đĩa của nàng. “Tên nó là Go Figure (khám phá xem).”
Nàng rên lên trước sự mưu mẹo cũ rích của nó, và tiếng rên nửa chừng biến thành tiếng cười. “Làm ơn làm phước. Khi em bị bắt vì mọ mẫm các máy tính của ngân hàng, đừng nói với Cục điều tra là chị có một bản copy của chương trình nhé?”
“Em bảo chị rồi, nó an toàn mà, ít nhất là đến khi các ngân hàng thay đổi toàn bộ mật khẩu của họ. Lúc ấy thì chỉ đơn giản là chị không vào được. Em có thể vào,” cậu ta huênh hoang, “nhưng hầu hết mọi người thì không. Đây, để em cho chị một danh sách các mật khẩu.”
“Chị không muốn,” nàng vội nói, nhưng Kristian lờ nàng đi. Cậu ta lục lọi một chồng giấy tờ và kéo ba tấm giấy in chữ dày đặc ra nhét vào trong cặp của nàng.
“Đó. Giờ chị sẽ có khi nào cần.” Cậu ta dừng lời, nhìn chằm chằm vào máy tính với ván cờ đang tiếp diễn. Đối thủ của cậu ta vừa mới đi. Cậu ta quan sát bàn cờ, đầu hơi nghiêng sang một bên, rồi cười như nắc nẻ. “A ha! Em biết trò thí tốt đó, nhưng không được đâu.” Cậu ta vui vẻ di chuyển một quân Mã và kích chuột.
“Em đang chơi với ai đấy?”
“Không biết,” cậu lơ đãng nói. “Anh ta tự gọi mình là Fishman.”
Grace chớp mắt, nhìn chằm chằm vào màn hình. Không, không thể nào. Kristian đang chơi với người nào đó có lẽ là đã chọn tên trên mạng như thế với suy tính sâu xa, để lừa mọi người đi đến chính cái giả định ấy. Bobby Fisher[1] thực sự sẽ không lướt Net để tìm đối thủ; ông ta có thể chơi với bất kì ai, ở bất kì nơi nào, và được trả những khoản tiền lớn để làm việc ấy.
“Thường thì ai thắng?”
“Bọn em hoà. Anh ta giỏi phết,” Kristian công nhận khi cắm lại dây vào máy tính khác của cậu ta.
Grace mở ví và kéo cuốn sổ séc của mình ra. “Muốn ăn pizza không?” nàng hỏi.
Đầu cậu ngẩng lên khi kéo tâm trí khỏi thế giới ảo để kiểm tra tình trạng cái dạ dày. “Trời, em có bao giờ muốn đâu,” cậu ta tuyên bố. “Em đang chết đói đây.”
“Vậy thì gọi đi; để chị trả cho.”
“Chị có ở lại và ăn cùng em không?” Nàng lắc đầu. “Chị không thể. Chị có việc đang chờ ở nhà.” Nàng gần như không kìm nổi đỏ mặt. Ford sẽ rống lên cười nếu anh nghe được nàng.
Nàng viết một tờ séc năm mươi đô, rồi kéo một tờ hai mươi ra để trả cho bánh pizza. “Cám ơn cưng. Em là phao cứu sinh đấy.”
Kristian cầm tờ séc và tiền boa, toe toét cười khi nhìn thấy chúng. “Đây sẽ là một nghề nghiệp tốt đấy nhỉ?” Cậu ta nói, mắt sáng lên.
Grace phải cười lớn. “Nếu em có thể ở ngoài nhà tù.” Nàng đặt chiếc laptop vào trong cặp và đặt cái modem đã được sửa xong lên trên chiếc túi chưa kéo khóa. Kristian cầm lấy cái cặp nặng từ tay nàng một cách hào hoa và mang nó xuống nhà cho nàng. Nàng không thấy cả bố và mẹ cậu ta, nhưng tiếng súng và ô tô rượt đuổi nhau vẳng lại từ phòng làm việc đã chỉ ra vị trí của họ; cả hai người lớn nhà Sieber không ngại ngùng thích những bộ phim hành động của Arnold Schwarzenegger.
Sự hào hoa của Kristian chỉ tới được đúng chỗ bếp, khi ở gần với thức ăn nhắc cậu ta nhớ tới chiếc pizza còn chưa gọi. Grace lấy lại cái cặp đựng máy tính từ tay cậu khi cậu dừng lại ở điện thoại treo trên tường. “Cám ơn, Kris,” nàng nói, và rời đi cùng đường với lúc đến, ngang qua căn phòng giặt tối đen và ra cửa sau. Nàng dừng lại một lát để mắt quen với bóng tối. Trong thời gian nàng ở chỗ Kristian, mây đã kéo tới chắn gần hết ánh sao, mặc dù đây đó vẫn còn những khoảng trời trong. Dế kêu rí rắt, và một làn gió mát lạnh thổi quanh nàng, mang theo mùi cơn mưa.
Ánh đèn từ cửa sổ nhà bếp của nàng, cách năm mươi yard về phía tay phải, giống như một ngọn hải đăng. Ford đang ở đó, chờ nàng về. Nàng thấy lòng mình ấm áp và nàng mỉm cười khi nghĩ về anh. Nàng đã bắt đầu bước về phía nhà nàng, cẩn trọng trong bóng tối để không bị vấp vào những mố trên mặt đất, cỏ mềm mùa xuân làm êm bước chân nàng.
Nàng đang ở sân sau nhà Murchison khi nhìn thấy ai đó trong bếp nhà nàng, thoáng hiện nơi cửa sổ khi anh ta di chuyển. Grace dừng chân, hơi nhíu mày; người đó trông không giống Ford hay Bryant.
Ôi, Chúa, họ có khách. Nàng nhíu mày hơn nữa. Có thể là ai đó quan tâm tới khảo cổ học hay là làm việc với Tổ chức. Những sinh viên cao đẳng đang cân nhắc về nghề nghiệp này thi thoảng cũng qua chỗ họ để nói chuyện, và đôi khi nàng là người mà họ muốn gặp, nếu họ có vấn đề với những khoá học tiếng Latin hay Hi Lạp. Không quan trọng. Nàng không muốn nói chuyện phiếm, nàng muốn đi ngủ với chồng nàng.
Nàng miễn cưỡng bước vào, mặc dù tất nhiên nàng phải vào; nàng không thể đứng chờ trong bóng tối tới khi người nào đó đi về, có thể mất đến hàng giờ. Nàng ngó nghiêng bên phải, cố nhìn xem có nhận ra chiếc xe của người khách không, hi vọng rằng nó thuộc về một trong những người bạn của Bryant. Nếu thế, nàng có thể ra hiệu cho anh trai mang bạn sang bên nhà anh ấy.
Chiếc Buick quen thuộc của nàng nằm ở nhà để xe, và bên cạnh đó là chiếc Jeep Cherokee đen của Bryant. Chiếc xe bán tải Chevrolet bốn bánh dẫn động xước xát và móp méo của Ford, vốn được dùng để làm việc, đậu một bên. Không có chiếc xe nào trên lối lái xe nhà họ.
Thật kì lạ. Nàng biết họ có khách, bởi vì người đàn ông nàng thoáng thấy có mái tóc vàng cát, và cả Ford và Bryant đều có tóc tối màu. Nhưng trừ khi đó là một người hàng xóm ghé qua, nàng không biết làm sao anh ta tới đây được. Mặc dù vậy nàng biết hầu hết hàng xóm của họ, và không ai phù hợp với nhân dạng của người nàng vừa nhìn thấy.
Chà, nàng sẽ tìm ra anh ta là ai khi vào trong nhà. Nàng bước một bước về phía ngôi nhà và đột ngột dừng lại lần nữa, ngó nghiêng trong bóng tối. Cái gì đó di chuyển giữa nàng và ngôi nhà, cái gì đó đen tối và lén lút.
Một cơn ớn lạnh chạy dọc xương sống nàng. Sự báo động lạnh như băng chạy trong huyết mạch nàng, làm nàng bất động tại chỗ. Những khả năng điên rồ nháng qua trí óc nàng: một con vượn thoát khỏi vườn thú… hay một con chó rất, rất to trong sân sau nhà nàng.
Rồi nó lại di chuyển lần nữa, tiến tới cửa sau nhà nàng êm ái như ma. Đó là một người đàn ông. Nàng chớp mắt kinh ngạc, tự hỏi tại sao ai đó lại lẩn lút quanh sân nhà nàng, và đi vào cửa sau thay vì cửa trước. Một vụ cướp? Sao lại có tên trộm nào có nửa bộ óc mà đột nhập vào một căn nhà sáng đèn và rõ ràng là có người ở nhà thế chứ.
Rồi cửa sau mở ra, và nàng nhận ra gã đàn ông vừa mới gõ lên cửa, mặc dù rất khẽ, bởi vì nàng chẳng nghe thấy gì cả. Một gã khác đứng trên cửa, một người đàn ông nàng biết. Có một khẩu súng, nòng súng dài và dày khác lạ trong tay hắn.
“Không có gì,” gã đầu tiên nói, giọng nói thấp, nhưng không khí ban đêm mang tiếng nói đi xa.
“Chết tiệt,” gã kia lẩm bẩm, bước sang một bên để gã đầu tiên đi vào. “Tôi không thể dừng lại được. Chúng ta phải làm nốt cho xong.”
Cánh cửa đóng lại đằng sau họ. Grace nhìn chằm chằm ngang khoảng sân tối vào cánh cửa sau trơ trọi của nhà nàng. Tại sao Parrish Sawyer lại ở đây, và tại sao ông ta lại có súng? Ông ta là sếp của họ, và nếu ông ta gọi đến báo trước là sẽ ghé qua, vì bất kể lý do gì, thì Ford sẽ gọi nàng về ngay. Họ có mối quan hệ thân ái với Parrish, nhưng họ chưa bao giờ giao tế với nhau; Parrish sống trong tầng lớp tách biệt của những người giàu có và nhiều quan hệ, những phẩm chất mà gia đình Grace không có.
“Làm đi” – là những gì ông ta nói. Làm cái gì? Và tại sao ông ta không thể dừng lại?
Choáng váng và khó chịu, Grace rời bỏ bóng tối của sân nhà Murchison và bước ngang qua sân nhà nàng. Nàng không biết đang có chuyện gì, nhưng nàng chắc chắn sẽ tìm ra.
Hồi nãy trong lúc nấu ăn nàng đã mở một cửa sổ bếp để có thể thưởng thức bầu không khí trong lành của mùa xuân, và nó vẫn còn mở. Nàng nghe rõ ràng Ford nói, “Khốn kiếp, Parrish, chuyện này là vì cái gì?”
Giọng Ford thô ráp, giận dữ, với một âm điệu nàng chưa từng nghe thấy. Grace đông cứng lần nữa với bước chân đặt trên bậc thềm đầu tiên.
“Cô ta đâu?” Parrish hỏi, lờ đi câu hỏi của Ford. Giọng ông ta lãnh đạm và lạnh lùng, và âm thanh của nó khiến tóc tai nàng dựng đứng cả lên.
“Tôi nói rồi, ở thư viện.” Nói dối. Ford đang cố tình nói dối. Grace đứng bất động, nhìn chằm chằm vào cửa sổ mở toang và cố hình dung ra cảnh đang diễn ra bên kia bức tường. Nàng không thể trông thấy ai, nhưng nàng biết có ít nhất bốn người trong nhà. Bryant và người đàn ông nàng nhìn thấy qua cửa sổ ở đâu?
“Đừng có trêu ngươi tao. Xe của cô ta ở đây.”
“Cô ấy đi cùng bạn.”
“Tên người bạn là gì?”
“Serena, Sabrina hay cái gì đại loại thế. Hôm nay là lần đầu tiên tôi gặp cô ta.”
Ford luôn luôn ứng biến rất nhanh. Những cái tên hơi khác thường một chút đủ để lời nói dối thêm trọng lượng, trong khi một cái tên Sally đơn giản không làm được. Nàng không biết tại sao Ford đang nói dối, nhưng thực tế anh đang nói cũng đủ với nàng. Parrish có một khẩu súng, và Ford không muốn hắn ta biết Grace đang ở đâu; có cái gì đó rất sai.
“Được rồi.” Nghe như là Parrish thở ra qua hai kẽ răng. “Mấy giờ cô ta sẽ về?”
“Cô ấy không biết. Cô ấy nói họ có rất nhiều việc phải làm.”
“Tao đoán là đến khi thư viện đóng cửa. Và cô ta đã mang tất cả tài liệu theo cùng.”
“Chúng ở trong cặp đựng máy tính của cô ấy.”
“Cái cô Serena-Sabrina này có biết gì về các tài liệu không?”
“Tôi không biết.”
“Không thành vấn đề.” Giờ nghe Parrish có vẻ chán nản. “Tao không thể mạo hiểm. Đuợc rồi, đứng dậy mau, cả hai.”
Nàng nghe thấy tiếng ghế bị kéo lùi, và nàng khẽ di chuyển sang phải, để có thể nhìn bên trong cửa sổ. Nàng cẩn thận đứng lùi lại để bất kì ai liếc qua cửa sổ không nhìn thấy nàng trong vòng ánh sáng.
Nàng thấy Bryant, không mặc áo, tóc tai ướt nhẹp; chắc hẳn anh đã bị lôi ra khỏi buồng tắm, điều đó cho nàng biết Parrish và gã đàn ông kia chỉ vừa mới tới không bao lâu. Khuôn mặt anh trai nàng buồn bã và nhợt nhạt, đôi mắt trống rỗng kì lạ. Grace di chuyển thêm một bước, và nhìn thấy bốn người nữa.
Có Ford, cũng nhợt nhạt như Bryant, mặc dù đôi mắt anh ánh lên một nét giận dữ mà nàng chưa từng thấy. Parrish, cao lớn và sành điệu, mái tóc vàng được tạo kiểu cầu kì, đứng quay lưng về phía cửa sổ. Gã đàn ông nàng thấy lúc nãy đứng bên cạnh hắn, và một gã khác đứng ngay bên trong cửa vào nhà bếp. Gã đàn ông ở lối vào bếp có vũ khí; khẩu súng của hắn, cũng như của Parrish đã được gắn giảm thanh. Grace nghĩ gã thứ ba cũng có vũ khí, vì hai gã kia đều có.
Nàng không biết đang có chuyện gì, nhưng nàng chắc chắn một điều: nàng cần cảnh sát. Nàng sẽ gọi họ từ nhà Sieber. Nàng cẩn thận lùi lại một bước.
“Đi vào trong phòng ngủ, cả hai đứa,” nàng nghe Parrish nói. “Và đừng làm việc gì ngu ngốc, giống như là nhảy bổ vào một trong chúng tao. Tao không thể nói bị bắn thì đau đến mức nào, nhưng tao sẽ buộc phải minh hoạ nếu chúng mày không hợp tác.”
Tại sao hắn lại bắt họ vào trong phòng ngủ? Nàng đã nghe đủ để biết rằng nàng mới là người hắn thực sự muốn, và dường như hắn quan tâm tới những tài liệu nàng đang cầm.
Nếu Parrish muốn tập tài liệu, tất cả những gì hắn phải làm là nói ra; hắn là sếp của nàng, và nàng đang làm công việc hắn giao cho nàng. Nàng sẽ tan nát trái tim khi phải từ bỏ những tài liệu đáng kinh ngạc này, nhưng nàng không thể ngăn hắn lấy nó. Tại sao hắn không chỉ việc gọi điện đến, và bảo nàng trả lại hắn vào sáng ngày mai? Tại sao hắn lại tới nhà nàng với một khẩu súng trên tay, và mang theo hai gã khác cũng có súng đi cùng? Vô lý hết sức.
Nàng đã bắt đầu rảo bước trở lại nhà Sieber, nhưng sự bốc đồng mang nàng tới góc nhà nơi nàng có thể nhìn qua cửa sổ phòng ngủ. Nàng chờ cho ánh sáng bật lên, chờ nghe thấy giọng nói trong phòng, nhưng không có gì, và đột nhiên nàng nhận ra Parrish mang họ lại phòng ngủ của Bryant, ở phía kia của ngôi nhà. Theo kết cấu của ngôi nhà lúc họ phân chia, phòng ngủ của Bryant ở phía sau cùng với nhà bếp. Parrish chắc đã mang họ đi theo hành lang tới phía trước ngôi nhà, rồi ngang qua cửa thông tới nhà của Bryant và trở lại phòng ngủ.
Grace lùi bước nhanh hết mức có thể, cẩn thận để vẫn ở trong bóng tối. Một ống nước cuộn tròn như một con rắn dài, thân mỏng dẹt quấn quanh vòi nước nhô lên bên ngoài; nàng đi men theo nó, và cũng bước ngang qua một cái sàng đất to mà một trong hai người đàn ông đã dựa cạnh nhà. Đây là nhà nàng; nàng biết tất cả những đặc tính của nó, những cái bẫy nhỏ cho những người không để ý. Nàng biết chỗ nào trên sàn bị ọp ẹp, chỗ nào trên trần bị nứt, chỗ nào trên sân có rễ cây.
Đèn đã sáng từ cửa phòng Bryant. Nàng dựa lưng vào tường và bước ngang cho đến khi nàng ở ngay bên dưới cửa. Nàng quay đầu, chầm chậm, cố di chuyển vừa đủ để nhìn vào trong.
Một trong những gã đàn ông bước tới cửa sổ. Grace giật đầu trở lại và đứng hoàn toàn bất động, thậm chí không dám thở nữa. Hắn giật màn cửa, che chắn cửa sổ và làm mờ ánh sáng từ đó phát ra.
Máu phập phồng trong tai nàng, và nỗi kinh hoàng làm nàng yếu đi. Nàng vẫn không thở được; tim nàng như đã nhảy lên cổ họng, làm nàng nghẹt thở. Nếu gã đàn ông thấy nàng có thể nàng đã bị bắt, vì nàng không thể nào di chuyển được.
“Ngồi lên giường,” nàng nghe Parrish nói qua tiếng tim đập thình thịch.
Cuối cùng phổi của Grace cũng hoạt động lại. Nàng hít vào không khí để bình ổn các dây thần kinh, rồi một lần nữa chuyển vị trí.
Tấm rèm không hoàn toàn rủ hết. Nàng di chuyển để có thể nhìn qua khe, thấy Ford và Bryant.
Parrish bình thản nâng khẩu súng giảm thanh của hắn lên và bắn vào đầu Ford, rồi nhanh chóng chuyển sang nhắm và bắn Bryant. Anh trai nàng chết trước cả khi thi thể chồng nàng ngả sang một bên.
Không. Không! Nàng bám lấy chỗ đó, tê liệt. Bằng cách nào đó cơ thể nàng đã chết, đã biến mất; nàng không thể cảm nhận được gì, không thể nghĩ gì. Một màn sương tối đen quẩn trước mặt nàng và cảnh tượng không thể tin được ấy lùi dần cho đến lúc giống như nàng nhìn thấy nó ở cuối một đường hầm dài. Nàng nghe thấy bọn chúng nói chuyện, giọng chúng méo mó một cách kì cục.
“Chẳng phải ông nên chờ? Sẽ có khác biệt về thời điểm của cái chết.”
“Không cần quan tâm.” Giọng của Parrish; nàng biết thế. “Trong một vụ giết người-tự tử, đôi khi tên sát nhân chờ một lúc trước khi hắn tự giết mình – hay trong trường hợp này là cô ta. Bị sốc, anh biết đấy. Thật là tội nghiệp, chồng và anh trai cô ta tằng tịu với nhau trong một mối quan hệ đồng tính luyến ái ngay dưới mũi cô ta. Chẳng trách sinh vật tội nghiệp đau khổ và quá khích.”
“Còn người bạn thì sao?”
“À, phải. Serena-Sabrina. Vận rủi cho cô ta; cô ta sẽ gặp một tai nạn không may trên đường về nhà. Tôi sẽ chờ Grace ở đây, còn anh chờ trong xe, theo dõi Serena-Sabrina.”
Màn sương dần dần tan ra khỏi tầm nhìn của Grace. Nàng ước chi nó không tan. Nàng ước chi nàng đã chết ngay tại chỗ, ước chi trái tim nàng đã ngừng đập. Qua khe hở trên tấm màn cửa nàng có thể nhìn thấy chồng nàng nằm ngửa, mắt mở lớn và bất động, mái tóc đen đẫm… đẫm… Âm thanh dâng lên đến ngực nàng, và một tiếng kêu buốt nhói câm lặng bị chặn ngang cổ họng. Nàng cố nén nó lại bằng cách nghiến răng, nhưng dù thế nó vẫn trào ra, nguyên thuỷ, hoang dại.
Đầu Parrish quay ngoắt ra sau. Trong một phần mười giây – không hơn – nàng nghĩ rằng ánh mắt họ đã chạm nhau, bằng cách nào đó hắn có thể nhìn xuyên qua khoảng hở nhỏ hẹp vào trong đêm tối. Hắn nói gì đó, gay gắt, và lao đến bên cửa sổ.
Grace lao mình vào bóng đêm.
Chú thích:
[1] Robert James “Bobby” Fischer (1943-2008) là đấu thủ cờ vua nổi tiếng người Mỹ. ~~~Theo Garry Kasparov thì Bobby Fischer là người có trình độ cao tách biệt nhất so với các kì thủ đương thời trong lịch sử cờ vua (wikipedia).

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.