Công Viên Khủng Long Kỷ Jura

Phần Hai – 1. BỜ BIỂN NỘI ĐỊA



 

lan Grant gập người lại, mũi chỉ cách mặt đất vài phân. Nóng trên bốn mươi độ. Đầu gối ông đau nhức, dù đã mang bao cao su chống cọ xát. Phổi như cháy vì bụi cát nóng. Mồ hôi nhỏ giọt từ trán. Nhưng rõ ràng Grant không thấy khó chịu . Toàn bộ sự chú ý của ông tập trung vào một diện tích chừng một đềximét vuông trước mặt.

 

Làm việc rất cẩn thận với một công cụ của nha sĩ và một bàn chải nhỏ bằng lông lạc đà, ông khơi dần ra một mảnh xương hàm hình chữ L nhỏ xíu. Mảnh xương dài chừng hai xăngtimét rưỡi và không dày hơn ngón tay út của ông. Hàm răng là một dãy những điểm nhỏ. Một ít mảnh xương nhỏ rời ra khi ông bới đất. Ông ngưng bới một lúc để phết lên miếng xương một lớp xi măng trên nhựa cao su trước khi tiếp tục. Không còn nghi ngờ gì nữa đây là xương hàm của một chú khủng long con. Con vật mang chiếc hàm này đã chết cách đây bảy mươi chín triệu năm, lúc khoảng hai tháng tuổi. May ra, Alan tìm thêm được phần còn lại của bộ xương. Nếu tìm được thì đấy là bộ xương đầy đủ đầu tiên của một con vật ăn thịt sống.

 

– Ê… ông Gr…. an… t!

Gran nhìn lên, mắt nhấp nháy trong ánh nắng. Ông kéo kính mát xuống và đưa lưng bàn tay chùi trán. Ông đang ở lưng chừng một sườn đồi bị xói mòn thuộc vùng đất xấu ngoại vi Snakewater, bang Montana. Dưới vòm trời xanh rộng, những đồi trọc đầy đá vôi trải dài hàng dặm về mọi hướng. Không thấy một cành cây, một bụi cỏ. Chẳng có gì ngoài đá sỏi, mặt trời cháy nóng và gió rít.
Khách tham quan thấy ở vùng đất hoang xấu này một quang cảnh tẻ ngắt. Nhưng với Grant thì lại khác. Vùng đất cằn cối này là cái gì đó còn lại của một thế giới khác, hoàn toàn khác, đã biến mất cách đây tám mươi triệu năm. Grant như thấy mình đứng trước một vùng đầm lầy ấm áp của quá khứ xa xôi, có nhánh sông tạo nên bờ của một vùng biển nội địa vĩ đại. Biển nội địa rộng một ngàn dặm, tràn khắp mọi phía, bắt đầu từ rặng Rocky Mountains mới trồi lên, đến những chóp núi nhọn hiểm trở của rặng Áppalachiaus.

 

Toàn bộ vùng Tây nước Mỹ nằm dưới nước.

Những đám mây mỏng bay trên bầu trời như bị đen xám đi bởi khói của những núi lửa gần đấy. Bầu khí quyển đặc hơn, có nhiều thán khí. Cây cối mọc thật nhanh dọc theo bờ biển. Biển không có cá, chỉ có trai, sò và ốc. Thằn lằn bay thường phóng mình xuống mặt nước để ăn các loại tảo. Một số khủng long ăn thịt lảng vảng kiếm mồi ở các bờ đầm phá, di chuyển giữa đám cọ dừa. Và ở ngoài khơi là một hòn đảo nhỏ diện tích chừng hai mươi mẫu tây. Quanh đảo thực vật rau cỏ mọc dày đặc làm thành nơi trú ẩn tốt cho những bầy khủng long mỏ vịt ăn cỏ, đẻ trứng trong những ổ chung và nuôi con.
Hàng triệu triệu năm sau đó, biển nội địa giàu muối kiềm cạn dần và cuối cùng biến mất. Mặt đất phơi mình dưới ánh nắng mặt trời nứt nẻ. Hòn đảo ngoài khơi vơi trứng khủng long biến thành ngọn đồi xói mòn ở phía bắc Montana, nơi hiện giờ đang được Gran khai quật.

 

– Ê…! Tiến sĩ Grant…

 

Ông đứng dậy, ngực lớn như thùng rượu, râu quai nón, khoảng bốn mươi tuổi. Tiếng máy điện xách tay nổ bình bình, tiếng cách cách của một lưỡi rìu máy bổ vào đá tảng ở ngọn đồi kề cận vọng tới. Ông thấy mấy người trẻ tuổi làm việc quanh lưỡi búa máy, chuyển những tảng đá đi sau khi kiểm tra xem có hóa thạch hay không. Ở chân đồi, sáu chiếc lều thuộc khu trại rung phần phật trước gió, một toa xe moóc dùng làm phòng thí nghiệm tại hiện trường ở phía sau. Và ông thấy Ellie đứng trong bóng râm của toa xe, một tay vẫy ông, tay kia chỉ về phía tây:

 

– Có kh…á… c… h!…

 

Grant thấy một đám bụi và một chiếc Ford Sedan nẩy xóc trên mặt đường nhấp nhô hướng về khu trại. Ông nhìn đồng hồ, vừa hết giờ. Phía bên kia đồi, mấy thanh niên nhìn về chiếc xe tỏ vẻ quan tâm. Không có mấy khách đến viếng Snakewater và lâu nay họ vẫn nghe tin là có một luật sư thuộc Cục bảo vệ môi trường muốn đến gặp Alan Grant.

Nhưng Alan biết rằng ngành cổ sinh vật học, ngành khảo cứu về các dạng sống đã tuyệt chủng, trong thời gian gần đây đã đạt được những thành quả bất ngờ.

 

Thế giới đang thay đổi nhanh chóng và những câu hỏi cần thiết về thời tiết, về việc phá rừng, về sự ấm lên của địa cầu hay về tầng ô-zôn… lâu nay dường như đã có lời giải đáp, it nhất phần nào, qua những lượng thông tin từ quá khứ. Những thông tin mà các nhà khảo cổ sinh vật học có thể cung cấp. Trong vài năm qua ông đã hai lần được xem là một chứng nhân trung thực.

 

Ông xuống đồi đón chiếc xe.

 

Người khách ho lên mấy tiếng khi đóng sầm cửa xe trong đám bụi và chìa tay ra:

 

– Tôi là Bob Morris, Cục bảo vệ môi trường. Tôi làm việc tại văn phòng chi nhánh San Francisco.

 

Grant tự giới thiệu rồi nói:

 

– Trông anh nóng quá rồi. Làm lon bia nhé?

 

– Ôi còn gì bằng!

 

Bob Morris gần ba mươi, mang cà vạt, quần xám. Tay xách cặp giấy. Đôi giày đế da mũi nhọn của anh ta kêu rào rạo trên sỏi khi họ đi về toa xe moóc. Morris chỉ vể phía mấy căn lều chóp nhọn:

 

– Khi tôi vượt qua ngọn đồi đàng kia nhìn tới đây, tôi tưởng đây là một khu trại của dân da đỏ.

 

– Đấy là cách tốt nhất để ở vùng này. – Grant giải thích. Vào năm 1978, năm đầu tiên khai quật, họ đóng ở vùng North Slope, họ dùng những lều tám mặt hiện đại nhất. Nhưng mấy chiếc lều luôn bị gió thổl lật. Họ thử dùng các loại lều khác, nhưng kết quả như cũ. Cuối cùng họ dùng loại này, bên trong rộng hơn, thoải mái hơn, và vững chắc hơn trước gió mạnh.

 

Morris đưa mắt nhìn quang cảnh hoang sơ rồi lắc đầu:

 

– Lều ấy thì đúng là thích hợp với ở đây. Ông đến đây bao lâu rồi?

 

– Vào khoảng sáu mươi thùng.

 

Morris ngạc nhiên không hiểu. Grant cười và giải thích tiếp:

 

– Chúng tôi tính thời gian bằng bia. Chúng tôi bắt đầu ở đây vào tháng sáu. Và đến giờ thì đã hết khoảng sáu mươi thùng.

 

– Thật chính xác là sáu mươi ba thùng. – Giọng của Ellie vang lên khi cô đến bên xe moóc. Cô mặc Jeans xẻ lên tận gối, áo công nhân cổ hở với cà vạt buông thõng. Hai mươi bốn tuổi, da nâu sậm, tóc vàng hoe buông xõa sau lưng.

 

Grant hơi buồn cười khi thấy Morris nhìn sững cô gái. Ông giới thiệu cô rồi tiếp:

 

– Ellie giữ cho mọi việc chạy đều. Rất thành thạo với công việc.

 

Morris hỏi:

 

– Cô ấy làm những gì?

Ellie mở cửa toa xe, trả lời thay Grant:

 

– Tôi đi chuyên ngành cổ thực vật. Và tôi cũng thực hiện mọi thứ để chuẩn bị cho hiện trường.

 

Họ bước vào. Chiếc máy lạnh trong toa xe chỉ đưa được nhiệt độ xuống tới ba mươi độ, nhưng dường như vẫn mát mẻ. Toa xe có một dãy bàn gỗ dài, bày thứ tự những mẫu xương nhỏ, mỗi mẫu đều có đính thẻ ghi rõ chi tiết. Xa hơn về phía cuối dãy bàn là những đĩa và chậu sành. Mùi dấm chua bốc nồng lên. Morris nhìn những mảnh xương.

 

– Tôi tưởng là khủng long phải to lớn.

 

– Lớn chứ. Nhưng mọi thứ anh thấy đây là của khủng long con. Vùng Snakewater này quan trọng là vì có nhiều ổ trứng khủng long. Cho tới trước khi chúng tôi bắt đầu công việc này, hiếm người biết đến khủng long con. Chỉ duy nhất một ổ trứng được tìm thấy ở sa mạc Gobi. Ở đây chúng tôi đã phát hiện nhiều ổ trứng khủng long, còn đầy đủ cả trứng lẫn xương khủng long non.

 

Trong khi Alan đến tủ lạnh, cô chỉ cho Morris những chậu đựng acid acetic dùng để rửa chất vôi ở những mảnh xương dễ vỡ. Morris nhìn mấy chậu sành:

 

– Trông giống những miếng xương gà.

 

– Vâng. Đúng là giống như xương chim.

 

Morris nhìn qua cửa sổ toa xe moóc, chỉ mấy đống xương lớn trong bao plastic:

 

– Còn cái gì ngoài kia?

 

– Thứ loại bỏ. Đấy là những mảnh xương quá dễ vỡ, hoặc xương vụn. Ngày trước, chúng tôi chỉ việc vứt đi. Nhưng nay phải giữ chúng lại để thực hiện những thí nghiệm về gen di truyền.

 

– Thử nghiệm gen di truyền?

 

Grant bước đến, nhét vô tay Bob lon bia:

 

– Phần anh đây. – ông đưa cho Ellie một lon khác. Cô ngửa đầu uống lon bia. Morris lại nhìn cô. Grant tiếp – Ở đây chúng tôi không kiểu cách gì. Anh muốn thăm phòng làm việc của tôi không?

 

– Có.

 

Grant dẫn anh chàng luật sư trẻ tuổi đến đến cuối toa xe, nơi có đặt một chiếc giường xếp rách, một chiếc ghế xiêu vẹo và một chiếc bàn thô tháp. Grant buông mình lên giường xếp, chiếc giường kêu kẽo kẹt và tung lên một đám bụi trắng. Ông dựa ngửa người, cọ chân vào chân bàn để cởi đôi bốt, vẫy tay mời Morris ngồi xuống ghế:

 

– Xin cứ thoải mái.

 

Alan Grant là một giáo sư cổ sinh học ở Đại học tổng hợp Denver, và là một trong những người tiên phong trong lĩnh vực này. Nhưng ông sống nhiều ngoài thiên nhiên và ý thức được rằng tất cả những công việc quan trọng thuộc ngành cổ sinh học đều được thực hiện ngoài thiên nhiên, với chính bàn tay mình. Ông không có mấy kiên nhẫn chờ vào Hàn lâm viện, vào quản lý bảo tàng, những nhân vật mà ông gọi là Người săn khủng long bên tách trà.

 

Ông nhìn Morris phủi bụi cẩn thận ở ghế trước khi ngồi. Morris mở cặp giấy tờ tìm kiếm, nhìn về phía Ellie đang dùng kẹp gắp những mảnh xương trong các chậu acid ở cuối toa moóc, chẳng chú ý gì đến hai người. Rồi anh ta mở đầu:

 

– Có lẽ giáo sư đang thắc mắc tại sao tôi đến đây?

 

Grant gật đầu:

 

– Có lẽ. Đường đến đây quá xa, ông Bob Morris.

 

– Vâng. Tôi xin vào ngay vấn đề. Cục bảo vệ môi trường gần đây rất quan tâm đến những hoạt động của công ty Hammond. Giáo sư có nhận một ít khoản tài trợ của Hammond phải không?

 

Grant gật đầu:

 

– Ba mươi ngàn đôla mỗi năm. Trong năm năm qua.

 

– Giáo sư biết gì về công ty này?

 

Grant nhún vai:

 

– Công ty Hammond là một nguồn trợ cấp tài chính đáng nể của các hoạt động có tính chất khảo cứu. Họ cấp ngân quỹ cho công cuộc khảo cứu khắp thế giới, gồm cả người khảo cứu về khủng long. Tôi biết họ vẫn bảo trợ cho Bob Kerry ở Alberta, và John Weller ở Alaska. Có lẽ còn nữa.

 

– Giáo sư có biết tại sao Hammond lại đỡ đầu nhiều cuộc khảo cứu khủng long?

 

– Dĩ nhiên tôi biết. Vì John Hammond là một ông già say mê khủng long.

 

– Giáo sư đã gặp Hammond?

 

– Một hoặc hai lần. Ông ta đến đây thăm tôi. Ông ta đã quá lớn tuổi, anh biết đấy. Và hơi kỳ quặc, theo kiểu thường có của một tay giàu có. Nhưng luôn luôn nhiệt tình. Tại sao anh hỏi thế?

 

– Ấy, công ty Hammond thật ra lại là một tổ chức hơi bí mật. – Morris lấy ra một bản đồ thế giới có đánh dấu những chấm đỏ và trao cho Alan – Đây là những vụ khai quật do Hammond tài trợ năm rồi. Giáo sư có chú ý thấy gì lạ ở các địa điểm đào tìm không? Montana, Alaska, Canada, Sweden…

 

– Tất cả đều ở phía bắc. Không có địa điểm nào dưới vĩ tuyến 45. – Morris mở ra một bản đồ khác – Y như thế, năm này qua năm khác. Những chương trình khai quật phía nam, ở Utah, Colorado hay Mexico, không bao giờ được tài trợ. Công ty Hammond chỉ bảo trợ cho các cuộc đào bới ở những vùng có khí hậu lạnh. Chúng tôi muốn biết tại sao.

 

Grant nhìn qua mấy tấm bản đồ. Đúng như thế, Hammond chỉ cung cấp tài chính cho những vụ khai quật ở xứ lạnh. Và đấy là một cách đối xử kỳ dị, vì một số công cuộc khảo cứu khủng long tốt nhất đang được thực hiện ở những vùng khí hậu nóng.

 

– Và đây là điều kỳ lạ khác. – Morris tiếp – Ví dụ có sự liên hệ gì giữa khủng long và hổ phách không?

 

– Hổ phách?

 

– Vâng, đấy là loại nhựa cây khô màu vàng rất cứng…

 

– Tôi biết thứ đó rồi. Nhưng tại sao anh hỏi thế?

 

– Vì suốt năm năm qua, công ty Hammond đã thu mua một số lượng khổng lồ hổ phách ở châu Mỹ, châu Âu, châu Á, gồm cả những mảnh nữ trang vụn trong các viện bảo tàng. Công ty này hiện sở hữu một số cổ phần lớn nhất trên thế giới về buôn bán chất liệu này.

 

Grant lắc đầu:

 

– Tôi không hiểu.

 

– Bất cứ ai cũng không hiểu. Trong chừng mực chúng tôi có thể nói được, việc này chưa thấy có ý nghĩa gì cả. Hổ phách rất dễ tổng hợp. Nó chẳng có giá trị thương mại hay quốc phòng. Không có lý do gì để tích trữ. Nhưng Hammond đã làm thế, trong nhiều năm qua.

 

– Hổ phách. – Alan lẩm bẩm lắc đầu.

 

Morris tiếp:

 

– Còn về hòn đảo của ông ta ở Costa Rica nữa. Mười năm trước, công ty Hammond thuê một hòn đảo của chính quyền Costa Rica. Giải thích là đê xây dựng nên một bảo tàng sinh vật.

 

Grant cau mày:

 

– Tôi không biết gì về việc ấy cả.

 

– Tôi không có khả năng tìm hiểu được nhiều hơn, – Morris nói – nhưng đây là vài điều về đảo. Nằm ngoài khơi bờ biển tây Costa Rica một trăm dặm. Đảo rất gồ ghề, nằm trong một vùng biển – nơi gặp gỡ của gió và hải lưu nên đảo luôn bị bao phủ bởi sương mù. Người ta vẫn gọi là đảo Mây. Tên đảo là Isla Nublar. Người Costa Rica rõ ràng rất ngạc nhiên thấy có người thuê đảo. – Morris tìm trong cặp giấy – Lý do tôi chú ý đến nó là, theo một số giấy tờ, giáo sư được trả một khoản với tư cách là cố vấn cho những gì liên quan tới đảo.

 

– Tôi ấy à? – Grant hơi ngạc nhiên.

 

Morris trao cho Grant một tờ giấy. Đấy là một tờ ngân phiếu được ký xuất vào tháng ba năm 1984 của công ty InGen ở đại lộ Farallon, California. Người nhận là Alan Grant, số tiền mười hai ngàn đôla. Ở một góc tờ ngân phiếu có ghi: THÙ LAO CỐ VẤN THAM KHẢO.

 

Grant nhìn tờ phiếu rồi gật đầu:

 

– Ờ, đúng thế. Tôi nhớ tờ ngân phiếu này. Quỷ thật, tôi nhớ rồi. Nhưng số tiền chẳnh có chút gì liên quan tới hòn đảo cả.

 

Alan Grant đã tìm được một số trứng khủng long ở Montana lần đầu tiên vào năm 1979, và nhiều hơn nữa trong hai năm tiếp theo. Nhưng ông ta không công bố phát hiện của mình cho đến năm 1983. Các tài liệu báo cáo của ông cho biết ông đã tìm được một bầy mười ngàn khủng long mỏ vịt sống dọc bờ biển nội địa, xây tổ chung, đẻ trứng trong bùn, nuôi con lớn thành bầy. Báo cáo này đã làm cho Grant nổi tiếng chỉ trong một đêm.

 

Các khái niệm về bản năng làm mẹ của những khủng long khổng lồ – và hình vẽ những khủng long con từ trong trứng mổ bể vỏ để chui ra – đã lôi cuốn sự chú ý của khắp thế giới. Grant luôn bị bao vây, tràn ngập những yêu cầu được phỏng vấn, diễn thuyết, viết sách. Nhưng ông đã từ chối tất cả, chỉ muốn tiếp tục việc khai quật. Và trong những ngày sôi nổi giữa năm 1980 ấy, công ty InGen đã tiếp cận với Grant, với yêu cầu giữ chức vụ cố vấn.

 

Morris hỏi:

 

– Giáo sư có nghe nói đến InGen trước đó không?

 

– Không.

 

– Làm sao họ tiếp xúc với giáo sư?

 

– Gọi điện thoại. Một người xưng là Gennaro hay Genino gì đó.

 

Morris gật đầu:

 

– Donald Gennaro. Ông ta là luật sư của InGen.

 

Grant nói tiếp:

 

– Ông ta muốn biết rõ về thói ăn thịt của khủng long và ông ta trả cho tôi một khoản thù lao để viết cho ông ta mọi thứ. – Grant uống bia, đặt lon xuống sàn xe – Gennaro đặc biệt lưu tâm đến khủng long con. Muốn biết chúng ăn gì. Ông ta cho rằng tôi biết các chuyện ấy.

 

– Giáo sư biết không?

 

– Thật sự tôi không. Tôi đã nói với ông ta như thế. Chúng tôi đã tìm ra được nhiều mảnh của bộ xương, nhưng có rất ít những dữ kiện về thức ăn. Nhưng Gennaro cho là chúng tôi không muốn công bố mọi thứ, và bảo là ông ta muốn bất cứ thứ gì chúng tôi có được với một đề nghị thù lao rất lớn. Năm mươi ngàn đôla.

 

Morris lấy ra một máy ghi âm để lên bàn, mở máy:

 

– Giáo sư có phiền không?

 

– Không đâu. Cứ việc.

 

– Và thế là, Gennaro điện thoại cho giáo sư vào năm1984. Công việc của giáo sư khi ấy thế nào? Giáo sư nhận lời?

 

– Vâng. Anh đã thấy công việc của chúng tôi ở đây rồi đấy. 50.000 đôla sẽ giúp chúng tôi rất nhiều trong việc khai quật. Tôi bảo là tôi sẽ làm những gì ông ta muốn.

 

– Giáo sư bằng lòng viết về khủng long cho ông ta?

 

– Vâng.

 

– Về chế độ ăn uống của khủng long?

 

– Vâng.

 

– Giáo sư có gặp Gennaro?

 

– Không. Chỉ qua điện thoại.

 

– Gennaro có nói tại sao ông ta muốn biết các thứ đó không?

 

– Có. Ông ta đang chuẩn bị kế hoạch thực hiện một bảo tàng cho trẻ em, trưng bày khủng long. Ông ta nói là có nhờ đến nhiều nhà khoa học khác và kể tên ra. Có những nhà cổ sinh vật như tôi, một nhà toán học ở bang Texas, hai người về môi trường.

 

Morris gật đầu:

 

– Và giáo sư nhận làm cố vấn tham khảo?

 

– Vâng. Tôi đồng ý gửi cho ông ta một bản tóm tắt công việc của mình: những gì biết được về thói quen của khủng long mỏ vịt mà chúng tôi có.

 

– Giáo sư đã gửi những loại thông tin gì?

 

– Mọi thứ: thói quen làm tổ, vùng đất ở, lối săn mối, lối sống theo bầy… mọi thứ.

 

– Và Gennaro đáp ứng thế nào?

 

– Ồ, ông ta gọi và gọi. Cả vào lúc nửa đêm. Khủng long có ăn thứ này không, có ăn thứ kia không. Tôi không thể hiểu tại sao ông ta muốn biết đủ thứ như thế. Ý tôi muốn nói là, tôi cũng cho khủng long là quan trọng, nhưng những thứ ấy thì không quan trọng. Chúng đã chết tiệt giống cách đây sáu mươi lăm triệu năm rồi. Anh có thấy những cú gọi như thế có thể chờ đến sáng cũng được không?

 

– Đúng thế. – Morris đồng ý – Còn về vụ năm mươi ngàn đô?

 

Grant lắc đầu:

 

– Tôi cảm thấy quá mệt với bao câu hỏi của Gennaro và hoãn lại mọi thứ. Chúng tôi nhận mười hai ngàn cho những công việc đã làm. Đâu vào khoảng giữa năm 1985.

 

– Còn công ty InGen? Giáo sư có tiếp xúc nào khác với họ không?

 

– Không. Kế từ 1985.

 

– Và khi nào thì công ty Hammond bắt đầu tài trợ cho giáo sư?

 

– Để tôi nhớ xem. Cũng đâu vào khoảnh thời gian đó. Vào giữa những năm 80.

 

– Và giáo sư biết Hammond là một người giàu có rất ưa thích khủng long?

 

– Vâng. – Grant nói – Này, nếu Cục bảo vệ môi trường quan tâm đến Hammond và những gì ông ta làm – những công trường khai quật khủng long ở phía bắc, việc lùng mua hổ phách, thuê đảo ở Costa Rica – tại sao anh không hỏi ngay ông ta?

 

– Vào lúc này, chúng tôi không thể hỏi được.

 

– Tại sao?

 

– Vì chúng tôi không có chứng cớ nào về việc họ sai trái. Nhưng theo ý kiến riêng tôi, rõ ràng là Hammond đang vi phạm luật pháp.

 

Morris giải thích:

 

– Thoạt tiên, tôi được gọi tiếp xúc với cơ quan OOT. Cơ quan này kiểm soát việc chuyên chở bằng đường biển những phương tiện kỹ thuật có thể có ý nghĩa về mặt quân sự. Họ cho tôi hay là InGen có thể chuyên chở hai loại kỹ thuật bất hợp phấp. Thứ nhất, ba máy Cray XMP3 đến Costa Rica. InGen cho rằng vụ này chỉ nằm trong mục phân phối phương tiện cho công ty chứ không phải đem bán. Nhưng OOT không hiểu được tại sao có gã trưởng phòng nào đấy ở Costa Rica lại cần đến thứ ấy.

 

– Ba máy Cray XMP3? – Grant hỏi – Đấy có phải là một loại computer không?

 

Morris gật đầu:

 

– Những computer siêu hạng. Ba chiếc Cray này có năng lực tính toán hơn bất cứ nhóm máy tính nào của các công ty tư nhân ở Mỹ và InGen chở máy đến Costa Rica. Giáo sư không tự hỏi tại sao ư?

 

– Tôi chịu. Tại sao?

 

– Chẳng ai biết được – về những chiếc máy Hoods lại càng đáng ngán hơn. Hoods là những máy kết chuỗi gen tự động – máy có thể tìm ra mã di truyền. Nó còn quá mới đến nỗi chưa có tên trong danh sách hạn chế buôn bán. Nhưng bất cứ phòng thí nghiệm kỹ thuật di truyền nào cũng muốn có một chiếc, nếu có thể mua được với giá nửa triệu đô la. – Morris lật sổ – Thế mà, hình như InGen đã chở đi đến hai mươi bốn máy kết chuỗi gen này qua Costa Rica.

 

– Một lần nữa – Morris tiếp tục – họ lại bảo đây là việc phân phối phương tiện làm việc, không phải xuất cảng. OOT đành bó tay. Nhưng rõ ràng là InGen đang thiết lập một trung tâm đầy đủ tiện nghi nhất về kỹ thuật di truyền tại Trung Mỹ, một xứ sở không có quy tắc, luật lệ. Loại việc như thế đã xẩy ra trước đây.

 

Có nhiều trường hợp các công ty sinh vật Mỹ chuyển đến hoạt động tạii một quốc gia khác để khói bị ràng buộc bởi những nguyên tắc và luật lệ Mỹ. Trường hợp tệ hại nhất – Morris giải thích tiếp – là công ty Biosyn, nghiên cứu bệnh dại.

 

Năm 1986, Biosyn thử nghiệm một loại vaccine bệnh dại có được do kỹ thuật di truyền sinh vật ở một nông trại Chile. Họ không đơn phương làm thử nghiệm. Chất vaccine chứa virus sống của bệnh dại, bằng phương pháp gen di truyền người ta đã làm cho nó không còn khả năng gây bệnh dại nữa. Nhưng tính chất không còn gây bệnh chưa được thử nghiệm trước. Biosyn không biết là virus có thể còn gây bệnh hay không. Tệ hơn nữa là virus đã bị thay đổi bản chất. Thông thường, người ta không thể mắc bệnh dại nếu không bị thú vật cắn. Nhưng công ty Biosyn thay đổi bản chất làm cho virút có thể gây bệnh qua đường hô hấp. Một người có thể bị dại chỉ vì hít phải loại virus này. Nhân viên của Biosyn mang thứ virus bệnh dại này đến Chile trong những túi xách trên một chuyến bay thương mại. Sự thể sẽ ra sao nếu các túi chứa virus vỡ ra. Mọi hành khách trên máy bay có thể nhiễm bệnh dại. Việc ấy thật là vô nhân đạo. Thật là thiếu trách nhiệm. Và rõ ràng là một sự bất cẩn mang tính trọng tôi. Nhưng chẳng có hành động nào chống lại công ty Biosyn. Các nông gia Chile đã liều mạng sống của họ một cách không mấy khôn ngoan, họ là những dân quê thiếu học, chính quyền Chile thì đang để tâm đến khủng hoảng kinh tế trong nước, chính quyền Mỹ thì không có thẩm quyền. Lewis Dodgson, nhà di truyền học chịu trách nhiệm thử nghiệm, đang làm việc cho Biosyn. Công ty này vẫn bình chân như vại. Và các công ty Mỹ khác đang gấp rút hoạt động tại nước ngoài vốn chưa có kinh nghiệm về di truyền học. Một số các quốc gia cho rằng kỹ thuật di truyền cũng giống như bất cứ kỹ thuật cao cấp nào khác, vì thế đã rước nó vào đất nước mình, không biết đến nỗi nguy hiểm đang hiện diện.

 

– Đấy là lý do tại sao chúng tôi – Morris nói – bắt đầu điều tra công ty InGen. Cách đây ba tuần.

 

– Và anh thật sự đã tìm thấy gì?

 

– Chưa có gì nhiều. – Morris thừa nhận – Khi trở lại San Francisco, có lẽ chúng tôi sẽ phải chấm dứt cuộc điều tra. Và tôi nghĩ tôi sắp hoàn thành việc điều tra tại đây. – Anh ta lắc đầu thu gọn giấy tờ vào cặp – Nhân thể, giáo sư cho biết “Jurenile hyperspace” có nghĩa là gì?

 

– Đấy chỉ là một tên tưởng tượng cho bản báo cáo của tôi. Hyperspace là một thuật ngữ chỉ không gian đa chiều – giống như three-dimenstion chỉ ba chiều. Nếu anh sắp thu thập các thói quen sinh hoạt của một con thú từ việc ăn uống, di chuyển, nghỉ ngơi, anh có thể định vị trí con vật trong không gian đa chiều. Một số nhà cổ sinh vật học nói đến thói cư xử của một con vật như đang diễn ra trong một môi sinh đa chiều. Jurenile hyperspace nói đến thói quen sinh hoạt của môt khủng long thành niên.

 

Ở cuối toa xe moóc, chuông điện thoại reo lên. Ellie nhấc ống nghe. Cô nói:

 

– Giáo sư đang bận họp. Giáo sư sẽ gọi lại ông nhé?

 

Morris đóng cặp lại và đứng dậy:

 

– Cảm ơn giáo sư nhiều về sự giúp đỡ và lon bia.

 

– Chẳng có gì.

 

Grant đi với Morris đến cánh cửa đầu toa xe. Morris nói:

 

– Có khi nào Hammond hỏi đến các thứ thuộc về thân thể khủng long ở công trường khai quật của giáo sư không? Xương trứng hay nhiều thứ tương tự.

 

– Không. – Grant trả lời.

 

– Tiến sĩ Ellie Sattler có lưu ý là giáo sư có thực hiện một số công việc về di truyền tại đây…?

 

– Thật ra không hẳn thế. Khi chuyển các vật hóa thạch bị bể hay vì lý do gì khác khiến chúng không thích hợp cho việc trưng bày, chúng tôi gửi tới một phòng thí nghiệm để nghiền nát và rút ra các protein. Phòng thí nghiệm xác định loại protein và phải báo cáo cho chúng tôi.

 

– Phòng thí nghiệm nào?

 

– Trung tâm sinh học y khoa ở Salt Lake.

 

– Lý do giáo sư chọn phòng thí nghiệm ấy?

 

– Họ mời, vì cạnh tranh.

 

– Phòng thí nghiệm không dính dáng gì đến InGen? – Morris hỏi.

 

– Theo tôi biết thì không.

 

Họ đã đến chỗ cánh cửa của toa xe. Grant mở cửa và cảm thấy đám hơi nóng từ bên ngoài tuôn vào. Morris dừng lại để mang kính mát lên. Anh ta nói:

 

– Một điều cuối cùng. Giả sử InGen đang thật sự chuẩn bị một bảo tàng trưng bày. Có thể họ đã làm được gì với các thông tin giáo sư gửi cho họ ở các bản báo cáo.

 

Grant cười to:

 

– Chắc chắn là có thể rồi. Họ có thể nuôi một con khủng long con.

 

Morris cũng cười lớn:

 

– Một con khủng long con. Đấy là một điều nên xem xét. Khủng long con to cỡ nào?

 

– Chừng này, – Grant dang tay – khoảng mười lăm xăngtimet. Cỡ một con sóc.

 

– Trong bao lâu thì chúng lớn hết mức?

 

– Ba năm.

 

Morris đưa tay ra:

 

– Lần nữa xin hết sức cám ơn giáo sư.

 

– Lái xe thong thả nhé. – Grant nói, đứng nhìn theo Morris một lát khi anh ta đi về phía chiếc Land Rover rồi đóng cửa toa xe.

 

– Cô nghĩ sao? – Grant hỏi.

 

Ellie nhún vai:

 

– Ngây thơ.

 

Grant cười:

 

– Cô thấy thích Hammond ở chỗ ông ta là một gã vô lại xấu xa à? John Hammind cũng sắp sửa làm chuyện gở như Walt Disney vậy. À này, ai gọi đấy?

 

– Một người đàn bà tên là Allce Levin, bà ta làm việc tại Trung tâm y tế Columbia. Giáo sư biết bà ta?

 

Grant lắc đầu:

 

– Không.

 

– Thế thì có việc gì đấy về việc nhận dạng phần còn lại của một con vật bị ăn thịt. Bà ta muốn giáo sư gọi ngay.


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.