Kẻ Phụng Sự Thầm Lặng

CHƯƠNG 40: ĐẢO FUNEN TẠI ĐAN MẠCH



8 giờ 35 phút tối thứ năm.
Ánh sáng trên chiếc cầu Great Belt, chiếc cầu dài thứ hai trên thế giới, bắc ngang qua hai đảo Zealand và Funen đẹp rực rỡ trong đêm. Gabriel liếc nhìn đồng hồ và lái xe xuống con đường dốc hướng về phía Đông. Chuyến đi từ Copenhagen đến đây không nên mất quá hai giờ, nhưng cơn bão càng lúc càng lớn đã khiến nó kéo dài gần 4 tiếng. Anh nhìn lại con đường rồi đặt hai tay vào vô lăng. Chiếc cầu đang lắc lư trong cơn gió mạnh. Ibrahim một lần nữa hỏi rằng liệu thời tiết như thế có đúng là một điềm tốt hay không. Gabriel đáp lại rằng hy vọng Ibrahim biết bơi.
Họ mất khoảng 20 phút để đi qua chiếc cầu dài 8 dặm. Ở đầu cầu phía bên kia đảo Funen, cơn bão đang ập tới ga xe lửa nhỏ ở eo biển. Cách ga xe lửa một dặm là trạm xăng và quán cà phê bên đường… Đổ xăng xong, Gabriel đỗ xe ở bên ngoài tiệm cà phê và dẫn Ibrahim vào bên trong. Bên trong quán rất sáng sủa, sạch sẽ và được trang trí tinh tế. Phòng đầu tiên là một quầy bán thức ăn nhanh, phòng tiếp theo có những vị khách bị mắc lại vì cơn bão. Những cuộc nói chuyện sôi nổi đang diễn ra, những chai bia Carlsberg nằm lăn lóc trên bàn gỗ, cho thấy việc nhậu nhẹt đã diễn ra ở đây. Gabriel và Ibrahim mua sandwich kẹp trứng, trà nóng ở quầy bán thức ăn nhanh, họ ngồi ở bàn gần cửa sổ. Ibrahim lặng lẽ ăn trong khi Gabriel nhấm nháp trà và nhìn chằm chằm ra xe. Sau 30 phút trôi qua, cuối cùng điện thoại cũng reo lên, Gabriel lấy ra ngồi yên lặng nghe. “Chờ ở đấy nhé”, anh nói.
Anh đi thẳng vào nhà vệ sinh nam, ở đó anh giấu khẩu beretta và chiếc điện thoại ở trong thùng rác. Sau đó đi vào chợ mua tấm bản đồ nước Anh và một cuốn sách hướng dẫ cho khách du lịch bằng tiếng Anh. Khi Gabriel quay lại phòng ăn, Ibrahim đang gói miếng sandwich bỏ vào túi và theo viên đặc vụ ra ngoài.
“Nó đây rồi”, Ibrahim nói. “Lindholm Hoje”.
Ibrahim cúi xuống đọc cuốn sách hướng dẫn dưới ánh sáng của chiếc đèn phía trên, còn Gabriel vẫn cứ nhìn lên đường.
“Nó nói gì?”.
“Đó là một nghĩa trang và một ngôi làng người Viking có từ xưa. Nó đã bị chôn vùi dưới lớp cát dày hàng thế kỉ và mới được phát hiện năm 1952. Theo như cuốn sách thì có 700 ngôi mộ và những tàn tích của một vài ngôi nhà tập thể của người Viking”.
“Ở đâu?’.
Ibrahim lại đọc cuốn sách lần nữa và đánh dấu địa điểm ở trên bản đồ. “Bắc Jutland. Đúng là ngay tại Bắn Jutland”.
“Làm sao để lái xe đến đó?”.
“Đi đường E20 băng qua Funen rồi tiến về phía bắc trên đường E45. Ngay sau Aalborg và Lindholm. Cuốn sách nói rất dễ tìm thấy chỗ đó, chỉ cần theo đúng sự chỉ dẫn”.
“Tôi không thể nhìn thấy đường, chỉ còn nhờ vào các biển chỉ đường. Có phải bọn họ định bỏ người phụ nữ Mỹ ở đó không?”.
Gabriel lắc đầu. “Cần có nhiều sự hướng dẫn hơn. Lần này sẽ được viết bằng tay, chúng nói rằng chúng sẽ ở trong những căn nhà đổ nát, ở góc xa nhất từ lối đi vào viện bảo tàng”.
Gabriel nhìn lướt qua Ibrahim. “Lần này là giọng của một người khác chứ không phải là Ishaq”.
“Người Ai Cập hả?”.
“Tôi nghe giọng hắn như là người Ai Cập vậy, nhưng tôi không phải là một chuyên gia”.
“Làm ơn đi”, Ibrahim thốt lên. “Tại sao chúng lại bắt anh bỏ điện thoại của mình vào thùng rác?’.
“Không sử dụng phương tiện liên lạc điện tử nữa”.
Ibrahim nhìn xuống bản đồ. “Đường đến Lindholm rất xa”.
“Trong điều kiện đi bình thường sẽ mất hai giờ, nhưng với thời tiết thế này phải mất ít nhất 4 giờ”.
Ibrahim nhìn đồng hồ. “Nếu chúng ta may mắn thì sẽ đến được đó vào sáng thứ sáu”.
“Đúng vậy”, Gabriel nói. “Hắn muốn chúng ta phải gặp rắc rối với việc đúng thời hạn”.
“Ai? Ishaq à?”.
Gabriel thầm nghĩ, đó là một câu hỏi hay. Liệu đó có phải là Ishaq hay chính là Sphinx?
Mất 4 tiếng rưỡi để đến Lindholm, đúng như những gì Gabriel lo sợ, khu mộ thực ra không dễ tìm như những gì cuốn sách viết. Anh chạy lòng vòng khoảng 20 phút trong khu nhà gạch trước khi nhìn thấy tấm biển báo mà trước đó anh đã bỏ qua 3 lần. Nó đã bị tuyết che phủ, Gabriel phải ra khỏi xe và phủi tuyết đi, sau khi đọc xong anh biết rằng để đến được địa điểm thì anh phải lái xe lên ngọn đồi hiểm trở. Hai phút sau, Gabriel lái xe vào một khu đất xung quanh là những cây thông cao vút. Anh tắt máy và ngồi một lúc trước khi mở cửa xe đặt chân xuống tuyết. Ibrahim vẫn ngồi trong xe.
“Ông không đi sao?”.
“Nếu anh không phiền thì tôi sẽ chờ ở đây”.
“Đừng nói là ông sợ vào nghĩa trang nhé”.
“Không, nhưng tôi sợ những nghĩa trang của người Viking”.
“Họ chỉ hiếu chiến khi ở trên biển”, Gabriel nói. “Tại quê hương mình phần lớn họ là những người nông dân. Điều đáng sợ nhất chúng ta gặp phải trong đêm nay chính là bóng ma của những người nông dân đấy”.
“Nếu anh nghĩ như vậy thì tôi sẽ ở lại đây”.
“Tuỳ ông”. Gabriel nói. “Nếu ông muốn ngồi một mình ở đây thì tốt thôi”.
Ibrahim nghĩ một lúc rồi bước ra khỏi xe. Gabriel mở thùng xe lấy ra một đèn pin và một khẩu súng lục.
“Tại sao anh lại mang theo những thứ đó?”. Ibrahim hỏi.
“Phòng trường hợp gặp phải người Viking”, Gabriel giắt chúng vào thắt lưng và nhẹ nhàng đóng thùng xe lại. “Chúng bắt tôi phải quăng súng vào thùng rác ở quán cà phê đó. Một khẩu súng lục còn hơn không có gì cả”.
Gabriel bật đèn pin lên và cùng với Ibrahim đi qua khu đậu xe. Lớp tuyết dày gần 2 m, chỉ trong vài bước chân mà đôi ủng của Gabriel đã ướt sũng khiến đôi chân anh lạnh cóng. 30 giây sau khi rời xe, Gabriel đột nhiên dừng lại. Có dấu chân của hai người ở trên tuyết. Một cái lớn hơn cái còn lại, dẫn từ bãi đậu xe vào khu chôn cất. Gabriel để Ibrahim đứng một mình và lần theo các dấu chân. Căn cứ vào bề mặt của lớp tuyết, có thể một chiếc xe thùng nhỏ hoặc một chiếc xe tãi đã vào bãi đổ xe từ lối vào thứ hai vài tiếng trước đó. Dấu chân lớn hơn được bước xuống từ chỗ ngồi của tài xế, dấu chân còn lại là từ phía chỗ ngồi của khách. Gabriel cúi xuống mặt tuyết và nhìn chăm chăm vào những dấu chân nhỏ hơn như thể tìm kiếm những vệt màu lem trên bức tranh sơn dầu. Người phụ nữ đó mang giày thể thao. Không có dấu hiệu nào cho thấy có diễn ra ẩu đả.
Gabriel quay lại chỗ Ibrahim đưa hắn ta đi theo lối mòn vào bên trong. Khu nghĩa trang dần hiện ra trước mắt họ, nó nằm trên ngọn đồi dốc thoai thoải có thể nhìn thấy cả bờ vịnh. Mặc dù tuyết rơi khiến người ta khó mà nhìn rõ mọi thứ, nhưng qua ánh đèn pin của Gabriel, bóng của từng ngôi mộ dần hiện lên. Một sô ngôi mộ được đá đắp lên thành ụ, một số thì đá xếp thành hình tròn, những cái khác có hình chiếc thuyền của người Viking. Ngôi nhà bằng gạch cũng không khó tìm lắm, tất cả những gì Gabriel phải làm là chỉ việc đi theo dấu chân. Anh cúi xuống dùng đôi tay trần mò mẫm trên lớp tuyết. Vài giây sau anh tìm thấy một túi nhựa bên trong là một mẩu bản đồ chi tiết. Gabriel dùng đèn pin để đọc. Rồi đứng lên dẫn Ibrahim trở ra xe.
“Skagen”. Gabriel nói khi anh lái xe từ từ xuống đồi. “Chúng muốn tôi và ông đi đến Skagen. À, đến gần Skagen. Nơi chúng đánh dấu trên bản đồ hơi lệch về phía nam”.
“Anh biết nơi này chứ?”.
“Tôi chưa từng đến đó nhưng tôi biết. Có một gánh hát rong đã được hình thành ở đó sau năm 1800. Họ được biết đến khi họ học tại trường Skagen dành cho hoạ sĩ. Họ đến đó để tìm kiếm chân lí. Họ nói rằng đó là nơi duy nhất – chúng ta không thể nào tìm ra được một nơi như vậy”.
“Có thể đây lại là một điềm tốt khác”, Ibrahim nói.
“Có lẽ vậy”, Gabriel nói.
“Liệu con gái ngài đại sứ sẽ ở đó chứ?”.
“Trên bản đồ không ghi. Nó chỉ bảo chúng ta đến một nơi dọc theo biển Bắc”.
“Cô ta có ở nghĩa địa tối nay không?”.
“Chúng muốn tôi nghĩ vậy”, Gabriel nói. “Nhưng tôi không tin là cô ấy đã ở đó”.
“Sao anh lại nói vậy?”.
“Vì cô ấy tự mình bước ra khỏi xe và đến khu nghĩa trang”, Gabriel nói. “Tôi đã thấy Elizabeth lúc cô ấy bị bắt cóc. Người phụ nữ này sẽ không ngoan ngoãn bước đi mà không phản kháng lại”.
“Trừ phi bọn họ bảo sẽ thả cô ta ra?”, Ibrahim nói.
Gabriel liếc nhìn Ibrahim một cách thán phục. “Ông khá đấy”, anh nói.
“Tôi từng là một Giáo sư đại học mà, tôi thích đọc truyện trinh thám”.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.