Luật Giang Hồ

CHƯƠNG 2



Trên đường trở về văn phòng cổ Wall Street, Antonio Cavalli bắt đầu suy nghĩ một cách nghiêm túc hơn về Al Obaydi và diễn biến cuộc gặp gỡ của hai người. Hồ sơ về người khách hàng mới của y do văn phòng London của bọn họ cung cấp, rồi lại được cô thư ký Debbie của y cập nhật, cho biết viên Phó đại sứ mặc dầu ra đời ở Baghdad nhưng lại được giáo huấn ở Anh.
Khi Cavalli ngả người ra phía sau, nhắm mắt và hồi tưởng lại giọng nói nuốt âm và cách phát biểu rõ ràng dứt khoát, y cảm thấy mình như đối diện với một viên sĩ quan quân đội Anh. Lời giải thích có thể được tìm thấy trong hồ sơ của Al Obaydi dưới mục học vấn: King’s school Wimbledon, sau đó là ba năm ở đại học London ngành luật.
Al Obaydi cũng đã từng ăn bữa tối nhiều lần lincoln’s inn với đủ thứ món. Trở về Baghdad, Al Obaydi được bộ môn ngoại giao tuyển dụng. Ông ta đã thăng tiến nhanh chóng, mặc dầu Saddam Hussein tự phong là tổng thống và Đảng Baath vẫn thường xuyên đưa các đảng viên vào những chức vụ mà hiển nhiên họ không đủ trình độ để đảm nhiệm.
Trong lúc Cavalli lật qua một trang khác của tập hồ sơ y càng nhận thấy rõ Al Obaydi là một con người có đầy đủ khả năng tự thích nghi với những tình huống bất thường. Công bằng mà nói đó cũng là điều Cavalli tự lấy làm kiêu hãnh. Giống như Al Obaydi, y đã học luật, nhưng tại trường đại học Colombia ở New York. Tới thời kỳ hàng năm các sinh viên tốt nghiệp làm đơn vào những công ty luật hàng đầu, Cavalli luôn được phía đối tác xếp vào bảng danh sách chung kết căn cứ vào mức điểm của y, nhưng khi họ biết bố y là ai thì y không bao giờ được phỏng vấn.
Sau khi làm việc mười bốn giờ mỗi ngày suốt năm trong một công ty luật không mấy uy tín ở Manhattan, Cavalli bắt đầu nhận thấy rằng tối thiểu phải mất mười lăm năm nữa y mới có thể hy vọng trông thấy tên mình khắc lên trên bảng hiệu của công ty mặc dầu y đã kết hôn được với con gái của một trong các nhân vật vai vế trong công ty. Xong Cavalli không cần lãng phí mười năm, nên y quyết định tự đứng ra làm ăn riêng và ly dị vợ.
Tháng giêng năm 1982, công ty Cavalli chính thức hoạt động, và mười năm sau, ngày 15 tháng 4 năm 1992, công ty tuyên bố đạt một số lợi tức 157,000 đô la, đóng thuế đầy đủ. Điều mà sổ sách kế toán công ty không tiết lộ là một chi nhánh cũng được thành lập năm 1982, nhưng không hoạt động một cách hợp pháp. Một hãng không khai báo thuế, và mặc dầu lợi tức tăng lên mỗi năm, vẫn không thể gọi công ty Dun & Bradstreet đến kiểm toán và lập một bảng báo cáo toàn bộ về công việc kinh doanh của các nhân vật quan trọng. Các chi nhánh này được một số người rất ít thuộc dạng tâm phúc biết dưới cái tên “kỹ năng” – một công ty chuyên môn giải quyết các vấn đề không thể nhờ đến cuốn niên giám điện thoại “Những trang vàng”.
Với những cuộc tiếp xúc của bố y, và tham vọng mãnh liệt của Cavalli, chẳng bao lâu tên công ty không có trong danh sách này đã tạo nên danh tiếng trong việc xử lý nhiều vấn đề mà khách hàng không được nêu tên trước đó đã xem như không giải quyết được. Trong số nhiệm vụ gần đây nhất của Cavalli có việc tìm lại được cuốn băng đàm thoại giữa Sinatra 1 và Nancy Reagan dự định sẽ xuất bản trong tạp chí Rolling Stone và vụ trộm một bức tranh của Vermeere ở Ái Nhĩ Lan cho một người sưu tầm lập dị ở Nam Mỹ. Nhưng thành tích này được cấp một cách kín đáo với đám khách hàng tương lai.
Bản thân các khách hàng của họ phải được xem xét hồ sơ lý lịch một cách cẩn thận, tựa hồ họ đang nạp đơn xin gia nhập Câu lạc bộ Du thuyền New York bởi vì như ông bố của Tony vẫn thường nhấn mạnh, chỉ cần phạm một sai lầm là chắc chán y sẽ phải sống quãng đời còn lại trong môi trường không sao dễ chịu bằng ở nhà số 23 đường 75 ở phía Đông, hoặc toà biệt thự của họ ở Lyford Cay.
Hơn thập niên vừa qua, Tony đã gây dựng nên một hệ thống đại diện tuy nhỏ nhưng rải đều trên khắp thế giới phụ trách cung ứng cho họ những khách hàng đang cần một sự giúp đỡ nhỏ với một đề nghị “giàu trí tưởng tượng” hơn. Chính đầu mối Liban của y đã chịu trách nhiệm về việc giới thiệu người khách ở Baghdad, mà đề nghị đúng ngay loại này không còn nghi ngờ gì nữa.
Ngay khi ông bố của Tony được báo cáo tổng quát về chiến dịch “yên tĩnh sa mạc” ông ta đã khuyên con trai đòi một số tiền thù lao một trăm triệu đô la để bù đắp cho việc toàn bộ Washington mở to mắt mặc tình nhân y hành động.
– Chỉ cần một sai sót, – ông già vừa liếm môi vừa cảnh cáo y – là con sẽ nổi tiếng hơn cả việc Eivis 3 tái sinh.
Rời khỏi giảng đường, Scott Bradley vội vã băng ngang qua nghĩa trang Grove Street, hi vọng rằng anh có thể về đến căn hộ của anh ở đường St. Ronan trước khi bị một sinh viên đuổi theo kịp và bắt chuyện. Anh quý mến tất cả bọn họ – phải, hầu như tất cả – và anh sẵn lòng cho phép những người nghiêm túc hơn trong bọn họ cùng thả bộ về phòng anh vào các buổi tối để uống một ly và nói chuyện cho tới khuya. Nhưng phải cho đến khi họ đã lên năm thứ hai.
Scott cố gắng tới cầu thang trước khi một luật sư tương lai nào bắt kịp ai. Tuy nhiên, ít có ai biết được rằng anh đã từng vượt qua bốn trăm mét trong 48,1 giây khi anh tham gia cuộc thi đấu chạy tiếp sức của trường đại học Georgetown. Tin tưởng mình không bị ai bắt kịp, phóng lên cầu thang, không hề ngừng chân cho đến khi tới căn hộ của anh trên tầng ba.
Anh đẩy tay mở cánh cửa không khoá. Cửa luôn luôn không khoá. Trong căn hộ của anh không có một thứ nào đáng lấy trộm – ngay cả chiếc tivi cũng không hoạt dộng.
Chỉ một tập hồ sơ có thể cho biết pháp luật không phải là lãnh vực duy nhất mà anh là một chuyên gia, thì nó sẽ được cất giấu một cách cẩn thận trên kệ sách của anh khoảng giữa hai hồ sơ thuế và án xử sai. Anh quên chú ý tới mấy cuốn sách chồng chất khắp nơi hoặc tới việc anh có thể đã viết tên mình trên lớp bụi mặt tủ búp phê.
Scott đóng cửa lại và như thường lệ liếc nhìn bức ảnh của mẹ anh trên tủ búp phê. Anh bỏ tập giáo trình đang cầm trên tay bên cạnh bà và nhặt mấy phong thư ló ra phía dưới cánh cửa. Scott bước ngang qua phòng và ngồi xuống một ghế bành cũ bằng da và tự hồi có bao nhiêu khuôn mặt sáng sủa trong đám sinh viên vẫn sẽ còn lắng nghe bài giảng của anh trong vòng hai năm nữa. Bốn mươi phần trăm có thể giỏi, ba mươi phần trăm thì có lý hơn. Đó là những người mà việc học mười bốn giờ mỗi ngày sẽ trở nên chuẩn mực, và sẽ không hợp lý trong tháng cuối cùng của kỳ thi. Và trong số họ sẽ có bao nhiêu đạt được các mức độ của Dan Thomas W. Swan. Năm phần trăm, nếu anh may mắn.
Vi giáo sư luật hiến pháp chuyển sự chú tâm vào tập thư của anh đang ở trên vế. Một cái của American Express – một tờ quảng cáo với cả trăm món quà tặng xem ra rất dễ nhận được nhưng không chừng sẽ khiến anh mất nhiều tiền hơn nếu anh nhận bất cứ một món nào trong số đó.
Một giấy mời của Brown đến nghe Charles Avans Hughes thuyết trình về hiến pháp. Một bức thư của Carol nhắc nhở anh cô đã không gặp anh khá lâu. Một thông tư của một hãng buôn bán cổ phấn không hứa hẹn gấp đôi số tiền của anh nhưng … Và cuối cùng là một phong bì màu vàng trơn đóng dấu bưu điện Virginia 4 với một dạng chữ anh nhận ra ngay lập tức.
Anh liền mở chiếc phong bì màu vàng và lấy ra một mảnh giấy nhắn gửi anh những chỉ thị sau cùng.
 
Al Obaydi thả bộ đến Đại hội đồng và ngồi xuống một chiếc ghế ở ngay phía sau Trưởng phái bộ của ông ta. Vị đại sứ đã mang máy nghe và đang giả vờ hết sức chú tâm vào một bài phát biểu của vị trưởng phái bộ Brazilia. Ông xếp của Al Obaydi luôn luôn thích nói những câu chuyện tuyệt mật trong phòng họp của Đại hội đồng. Ông tin chắc rằng đây chính là căn phòng duy nhất trong toà nhà Liên Hiệp Quốc mà CIA không đặt máy nghe trộm.
Al Obaydi kiên nhẫn đợi cho đến lúc người đàn ông già hơn giật nhẹ một bên ống nghe và hơi ngả người ra phía sau.
– Bọn họ đã thoả thuận theo các điều kiện của chúng ta, – Al Obaydi khẽ nói, tựa hồ chính ông ta là người đã ra giá.
Vành môi của vị đại sứ trề ra phía trên môi dưới, dấu hiệu mà các đồng nghiệp của ông đều biết rằng ông cần thêm chi tiết.
– Một trăm triệu, – Al Obaydi thì thào – Mười triệu phải trả ngay. Chín chục cuối lúc giao hàng.
– Ngay? – Vị đại sứ hỏi – Ngay là thế nào?
– Trưa mai – Al Obaydi vẫn thì thào.
– Tối thiểu Sayedi đã đoán trước việc này, – vị đại sứ trầm ngâm bảo.
Al Obaydi khâm phục cái cách cấp chỉ huy của mình luôn luôn có thể khiến cho từ “ông chủ” có vẻ vừa tôn kính vừa xấc láo.
– Tôi phải gửi một thông điệp về Baghdad để báo cho bộ trưởng ngoại giao biết rõ từng chi tiết thắng lợi. của anh – vị đại sứ nói tiếp với một nụ cười.
Lẽ ra Al Obaydi cũng đã mỉm cười nhưng ông ta chợt nhận thấy vị đại sứ sẽ không chấp nhận bất cứ một ai dính líu vào đề án trong lúc mọi việc vẫn còn ở giai đoạn hình thành. Chừng nào ông còn dây dưa vào viên thuộc cấp tạm thời lúc này, vị đại sứ vẫn có thể tiếp tục cuộc sống yên tĩnh ở New York cho tới ngày ông về hưu đúng ba năm sau.
Nhờ theo một lối như thế ông đã tồn tại mười bốn năm dưới sự thống trị của Saddam Hussein trong lúc các đồng nghiệp của ông đã không thành công một cách nổi bật đến mức phải hưu non. Theo ông được biết thì một người đã bị bắn chết trước mặt gia đình, hai người bị treo cổ và nhiều người khác được ghi nhận là “mất tích”.
Vị đại sứ Iraq mỉm cười trong lúc Đại sứ Anh bước qua phía trước ông, nhưng ông ta không đáp lại.
– Đồ hợm hĩnh,- vị đại sứ Iraq nói thầm trong hơi thở.
Ông kéo ống nghe trùm lên tai để báo hiệu ông đã nghe quá đủ từ nhân vật số hai của ông. Ông tiếp tục lắng nghe vấn đề cố bảo tồn lượng mưa nhiệt đới ở Brazil kèm theo một yêu cầu Liên Hiệp Quốc trợ cấp thêm một trăm triệu đô la.
Đó không phải là điều mà ông nghĩ Sayedi sẽ quan tâm đến.
o O o
Hannah định gõ lên cánh cửa trước của ngôi nhà nhỏ, nhưng cửa đã mở ra ngay cả trước khi nàng kịp đóng cổng gãy ở cuối con đường mòn. Một người phụ nữ tóc đen hơi mập, trang điểm hơi quá với một nụ cười rạng rỡ rối rít bước ra chào đón nàng. Hannah phỏng đoán bà ta bằng tuổi mẹ nàng, nếu mẹ nàng vẫn còn sống.
– Chào mừng cô đến nước Anh. Tôi là Elthel Rubin, – bà ta thông báo bằng giọng nói dồn dập – Tôi lấy làm tiếc vì chồng tôi không có mặt ở đây để gặp cô, nhưng tôi không tin ông ấy sẽ trở về từ văn phòng của anh ấy trong vòng một tiếng đồng hồ nữa.
Hannah định nói thì Elthel tiếp ngang:
– Nhưng trước hết hãy để cho tôi thấy phòng của cô, rồi cô có thể kể cho tôi nghe các dự định của cô.
Bà ta xách túi của Hannah và dẫn nàng vào bên trong.
– Chắc là cô rất vui khi trông thấy London lần đầu, – bà ta nói trong lúc hai người đang lên cầu thang, – và sẽ có biết bao điều thú vị để cô làm trong thời gian sáu tháng sắp tới.
Từng câu một càng tuôn ra, Hannah càng nhận thức được rằng Elthel Rubin không có một ý niệm nào về lý do nàng đến London.
Sau khi mở van và tắm, Hannah đến gặp bà chủ nhà trong phòng khách. Bà Rubin lại tiếp tục nối đủ thứ chuyện, chỉ thỉnh thoảng mới lắng nghe vài câu trả lời của Hannah.
– Bà có biết phòng tập thể dục gần nhất ở đâu? – Hannah đã hỏi.
– Chồng tôi sắp về rồi, – bà Rubin trả lời – Nhưng trước khi bà ta kịp nói thêm một câu, cánh cửa trước chợt mở tung ra vì một người đàn ông cao chừng một mét rưỡi với mái tóc xoăn cứng màu đen và đôi mắt còn đen hơn nữa gần như chạy vào trong phòng. Khi Peter Rubin đã tự giới thiệu và hỏi chuyến bay của nàng như thế nào ông ta không lãng phí thêm một lời nào khác để gợi ý có lẽ Hannah đã đến London để thưởng thức đời sống xã hội của chốn thủ đô. Hannah nhanh chóng biết rằng Peter Rubin không hối bất cứ câu nào mà ông nghĩ nàng không thể trả lời một cách thành thực. Mặc dầu Hannah cảm thấy chắc chắn rằng ông Rubin không biết chi tiết nào về nhiệm vụ của nàng, rõ ràng ông hiểu nàng không đến London để tham quan.
Tuy nhiên, bà Rubin không để cho Hannah đi ngủ mãi tới quá nửa đêm, tới lúc đó thì bà ta đã mệt lử. Đầu vừa đặt lên gối nàng đã ngủ say, không hề hay biết. Peter Rubin đang giải thích với vợ ông trong bếp rằng trong thời gian tới người khách của họ cần phải được yên tĩnh.
Chú thích
1.Tức Frank Sinatra ca sĩ và tài tử điện ảnh nổi tiếng của Mỹ.
2.Jan Vermeere (1632-1675): hoạ sĩ Hà lan.
3.Elvis Prestley, ca sĩ nhạc rock lừng danh tại Mỹ, sinh ngày 8-1- 1935 và qua đời vì bệnh ngày 16-8-1977, hôm đó tổng thống Mỹ đã cho phép cả nước để tang một ngày.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.