Nhà Tiên Tri Cuối Cùng

CHƯƠNG 10: NGÀY 6 THÁNG 9, 07:45 AM, GIỜ EST THỦ ĐÔ WASHINGTON, D.C.



Những kết cục lỏng lẻo,” Trent McBride cất giọng giải thích. “Chúng còn quá nhiều.”
Yuri thấy hắn liếc nhìn về phía ông nhưng ông không nao núng. Cứ để chúng giết ông. Chẳng có vấn đề gì. Yuri ngồi trên chiếc ghế tựa văn phòng. Ông được mặc quần áo sau khi những thiết bị điện cực được tháo rời khỏi người. Màn tra tấn thảm khốc đã kéo dài thêm hai mươi phút. Yuri không thể giữ nổi bí mật. Ông tiết lộ rất nhiều, thú nhận thêm những chi tiết về di truyền trên những đứa trẻ, bí mật mà ông và Savina giấu kín không cho người Mỹ biết.
Thậm chí ông còn thú nhận lý do người Nga không phản đối việc tuyển mộ giáo sư Archibald Polk. Yuri thừa nhận Polk đã biết quá nhiều bí mật cốt lõi liên quan đến di truyền. Savina đã lên kế hoạch dàn xếp một vụ tai nạn khi Polk còn ở căn cứ Warren để bịt miệng.
Nhưng trong trò chơi này, một phần của chính sách “bên miệng hố chiến tranh” mang tính khoa học, cả ông lẫn Savina đều không tưởng tượng nổi chính những đồng nghiệp và bạn bè Polk lại tổ chức cuộc đào thoát cho ông, làm mồi nhử khiến một trong những đứa trẻ của họ sập bẫy.
Và Savina đã cắn câu. Bà chẳng mấy quan tâm việc Polk trốn thoát cùng chiếc đầu lâu mà McBride đã nói tới.
Bí mật di truyền ông nắm trong đầu mới khiến Savina hoảng sợ đến mức phải cử Yuri và Sasha đi săn lùng vị giáo sư. Cô bé đã nhẹ nhàng rơi vào bẫy của những người Mỹ.
“Kết cục lỏng lẻo?” Mapplethorpe hỏi lại, có vẻ như đang chú ý lắng nghe. Ông ta lắc đầu, chẳng mấy bận tâm. “Tôi thấy chỉ có ba thứ. Đứa trẻ, cái hộp sọ cộng với dấu vết của Polk ở Ấn Độ. Vấn đề cuối đã trong tầm kiểm soát rồi. Tôi nghe có nhiều ý kiến bất bình trong giới tình báo xung quanh cái hộp sọ bị mất tích, cho là nó có thể lật ngược tình thế một cách bí ẩn.”
“Ông giải quyết thế nào?” McBride hỏi không do dự.
“Cứ chờ đến lúc nước sôi, anh sẽ phải ngạc nhiên vì cái sẽ xuất hiện trên bề mặt.”
“Còn đứa trẻ?”
Yuri tập trung hơn vì vấn đề này. Ánh mắt Mapplethorpe vụt đổi hướng về phía ông. Yuri biết lý do duy nhất giữ ông sống sót là Sasha. Mapplethorpe cần đến ông, hắn biết về tình trạng sức khỏe của cô bé, vấn đề phát sinh ở tất cả những đứa trẻ. Căng thẳng do hoạt động tinh thần tác động đến thể chất của các đối tượng. Thật ra, rất ít trong số đó có tuổi thọ lên đến hai mươi, đặc biệt là những đứa trẻ có năng khiếu bác học. Vấn đề này đòi hỏi phải có quy trình thu thập trứng và tinh trùng để giữ cho di truyền được tồn tại.
Mapplethorpe thở dài. “Ta phải tìm được đứa trẻ trước hoàng hôn… nếu không thể sớm hơn.”
Nhưng như thế vẫn quá trễ, Yuri nghĩ thầm.
Suy nghĩ nông cạn của người Mỹ, họ giả định quá nhanh rằng bằng chứng tra tấn chính là toàn bộ câu chuyện. Mặc dù Yuri không lừa dối, ông đã phạm phải một tội ác: tội bỏ mặc. Mà thật ra, McBride không đặt câu hỏi, vậy nên ông vẫn an toàn nắm giữ ưu thế và niềm tin sắt đá trong cơn đau cùng cực.
Gương mặt Yuri tỏ ra cam chịu. Họ tìm cách làm ông nhụt chí bằng những màn tra khảo, nhưng ông là một kẻ đã dạn dày kinh nghiệm, người luôn phải giữ kín những bí mật. Những gì họ đạt được chỉ là khiến ông vững tin vào tương lai sắp đến. Suốt mấy tháng qua, Yuri bắt đầu bảo lưu kế hoạch của Savina.
Chỉ là vấn đề tự nhiên.
Hàng triệu người sẽ chết trong những hoàn cảnh khốc liệt.
Tất cả vì một thế giới mới.
Một thời kỳ Phục hưng mới.
Yuri bắt gặp nụ cười nửa tự mãn của Mapplethorpe và niềm tin sáng rực trong mắt McBride.
Mọi do dự trong Yuri tắt ngấm.
Savina hoàn toàn đúng.
Đã đến lúc thế giới phải lụi tàn.
2:55 chiều Phía Nam dãy Ural
Thiếu tướng Savina Martov biết có điều gì đó bất ổn. Bà cảm nhận từ trong xương tủy, một mối lo âu mơ hồ. Không thể chịu đựng thêm, bà rời khỏi văn phòng. Bà cần những chẩn đoán chắc chắn.
Một bên khuôn mặt gắn sẵn điện đàm vô tuyến, bà dẫn hai binh sĩ đi qua những con đường bỏ ngỏ mịt mùng, cắt ngang khu căn hộ thời Xô viết đã chiếm trọn phân nửa hang động Chelyabinsk 88. Vài dãy nhà bê tông bằng phẳng nằm hai bên chính là nơi trú ngụ đầu tiên của các tù nhân làm việc ở những hầm mỏ và nhà máy lọc. Họ phải đánh đổi cuộc đời cho năm năm làm việc ở đây, trong những khu trại lao động. Bởi không ai trong số đó trụ nổi đến năm cuối cùng. Họ chết vì phóng xạ trước khi năm đầu tiên kết thúc.
Một ván bài xuẩn ngốc, thêm một lần nữa niềm hy vọng chứng minh rằng nó có khả năng biến lý trí của bất kỳ người nào trở thành liều lĩnh. Đó là di sản bà được kế thừa. Đóng vai trò như một lời nhắc nhở.
Có kẻ nghĩ bà độc ác, nhưng đôi khi sự tất yếu không thể mang bộ mặt nào khác. Lũ trẻ được nuôi dưỡng đầy đủ, mọi nhu cầu của chúng được đáp ứng. Nỗi đau được hạn chế tối đa đến mức có thể đối với con người.
Độc ác ư?
Bà dõi mắt nhìn quanh những căn hộ hun hút, lạnh lẽo, tối tăm đầy ám ảnh.
Tất cả những gì bà chứng kiến được coi là tất yếu.
Tiếng bộ đàm rè rè bên tai vì Trung úy Borsakov đã bắt liên lạc. Cho đến giờ bà chỉ toàn nghe được những báo cáo tiêu cực từ vị chỉ huy phó. ông ta vẫn đang tìm kiếm lũ trẻ quanh các dãy núi hay chân đồi. Những dấu vết giả đã đánh lạc hướng ông ta, trong đó có cả chiếc áo bệnh viện bị vứt bỏ.
“Chúng tôi tìm thấy xác hai con chó,” Borsakov tiếp tục báo cáo. “Bên bờ sông. Chúng bị xé thành từng mảnh. Bị gấu tấn công. Nhưng chúng tôi thu thập được một dấu vết quan trọng.”
“Còn lũ hổ?” Bà hỏi qua điện đàm.
Một thoáng yên lặng.
“Trung úy,” bà nhắc nhở.
“Chúng tôi hoãn không thả chúng ra cho đến lúc có manh mối rõ ràng. Không muốn lũ chó chịu nguy hiểm đối mặt với hai con hổ ở trên đồi.”
Giọng ông rất thực tế nhưng Savina nhận ra có gì đó gượng ép trong cách nói ấy. Viên trung úy không bận tâm nhiều về lũ chó so với bọn trẻ.
Tại sao bà luôn phải là người cứng rắn?
Giọng bà quả quyết. “Anh có dấu vết quan trọng rồi đúng không Trung úy?”
“Vâng, thưa Thiếu tướng.”
“Vậy đừng làm tôi thất vọng nữa.”
“Chắc chắn là không, thưa Thiếu tướng.”
Bà tắt liên lạc. Có thể bà đã khắt khe hơn nếu chưa nghe được tin tức khá xáo trộn khác một giờ đồng hồ trước đó.
Một nhân viên bảo trì ở thành phố Ozyorsk lân cận đã phát hiện ra một chiếc xe tải của căn cứ Warren bị bỏ lại, từng dùng để vận chuyển rác thải từ nhà máy làm giàu uranium cạnh bờ hồ Karachay. Người nhân viên ấy còn tìm thấy một phù hiệu giả có hình Giáo sư Archibald Polk.
Ông ta được trợ giúp.
Không cần phải suy nghĩ nhiều để nhận ra ai là người đã hỗ trợ cho ông ta trốn thoát. Phải là Tiến sĩ Trent McBride. Người Mỹ đang chơi trò gì đây? Không có tin tức từ Yuri, bà chỉ có thểsuy đoán rằng ông và đứa trẻ đang bị giam giữ. Thật ra, cuộc đào thoát được dựng lên chỉ là nhằm hoàn thành mục tiêu ấy.
Nếu đúng như vậy, Savina phải bái phục McBride quá xuất sắc.
Giống như bà, ông ta hiểu được điều tất yếu.
Ngẫm lại quá khứ, đáng lẽ ra bà không nên cộng tác với Hoa Kỳ. Nhưng có quá ít lựa chọn vào thời điểm đó. Trong cuộc khủng hoảng sau tan rã của Liên bang Xô viết, dự án của bà mất hết nguồn tài trợ. Chỉ duy nhất một liên minh cho phép công việc của bà được tiếp tục triển khai.
Hoa Kỳ cung cấp nguồn tiền mặt tạm thời, họ tìm cách mở rộng khả năng thu thập thông tin tình báo. Dự án của bà đưa ra hứa hẹn như vậy. Đồng thời cũng đề xuất một ý tưởng khác. Bà cung cấp cho chính phủ Mỹ khả năng khước từ cáo buộc đáng tin cậy, tương tự như những doanh trại tra tấn bí mật do CIA tài trợ ở châu Âu. Trong thế giới mới ấy, những ranh giới đạo đức đáng hoan nghênh – của quân đội hay khoa học – đều trở nên hư ảo.
Không phải trên đất của ta – là cương lĩnh mới của người Mỹ.
Nhưng việc mất đi Yuri và đứa trẻ vẫn không thể nào khắc phục. Chỉ còn cách đẩy nhanh thời gian biểu. Chiến dịch mang tên Thổ Tinh của bà được xem là bám sát hoạt động của Nicolas liên quan đến vấn đề Chernobyl trong vòng một tuần. Giờ đây xem ra cả hai cần được khởi động cùng một ngày.
Ngày mai.
Hai chiến dịch – Thổ Tinh và Thiên Vương Tinh – được đặt theo tên hai cuộc phản công chiến lược thời Thế chiến thứ II, khi Liên Xô đánh bại Đức trong trận Stalingrad – trận chiến đẫm máu nhất lịch sử loài người. Gần hai triệu người chết, trong đó thương vong dân sự rất lớn. Thế nhưng bại trận của người Đức lại được xem là bước ngoặt của chiến tranh.
Một chiến thắng vẻ vang cho Tổ quốc.
Trong quá khứ, chiến dịch Thổ Tinh và Thiên Vương Tinh đã giải phóng nước Nga, thay đổi tiến trình lịch sử thế giới.
Và tương tự, không tránh khỏi những tổn thất.
Tất yếu là một kẻ lãnh đạo tàn khốc.
Savina tiến đến bức tường phía xa hang động. Một đường hầm để ngỏ, khung cửa sập bọc chì khá dày, phiên bản thu nhỏ của những cánh cửa bít kín đường hầm chính đi vào Chelyabinsk 88.
Ngay trong miệng hầm là một con tàu và những thanh chắn. Con đường điện khí vận chuyển con tàu duy nhất qua lại giữa căn cứ Warren và trái tim của chiến dịch Thổ Tinh ở bên kia hồ Karachay. Đường hầm cũ kĩ đi dưới lòng hồ nhiễm độc, có phép lưu thông khẩn cấp mà không bị ảnh hưởng bởi hỗn hợp phóng xạ strontium-90 và cesium-137.
Con tàu đã sẵn sàng chờ đón bà.
Savina leo vào trong một khoang lót chì. Chỉ có hai khoang gắn kèm, khoang kia nằm ở phía cuối. Bốn phần còn lại là những xe quặng không mui để chuyên chở vật tư, thiết bị khai thác mỏ và đá.
Tàu chầm chậm dịch chuyển, tiếng bánh xe lách cách, tiếng động cơ điện loẹt xoẹt, những cánh cửa sập khép lại sau lưng bà. Đường hầm chìm vào bóng tối. Bà đăm chiêu khi đoàn tàu bắt đầu chuyến đi tốc hành năm phút. Lúc tăng tốc, Savina hình dung ra sức nặng của khối nước phía trên, bị cách ly bởi lớp đá kéo dài một phần tư dặm.
Khu vực phía trên là trung tâm thác quặng uranium và plutonium của Liên bang Xô viết. Khu vực một thời có bảy lò phản ứng sản xuất plutonium và ba nhà máy phân tách plutonium hoạt động, giờ đây hầu như không còn tồn tại. Tất cả được vận hành rất cẩu thả. Từ năm 1948, các cơ sở sản xuất bị rò rỉ lượng phóng xạ gấp năm lần nhà máy Chernobyl và tất cả những thử nghiệm hạt nhân trong khí quyển của thế giới gộp lại.
Nửa số phóng xạ vẫn còn lưu giữ trong hồ Karachay.
Mức phóng xạ đo được trên bờ hồ là sáu trăm Rơngen một giờ. Đủ trở thành một liều lượng chết người chỉ sau một tiếng đồng hồ.
Savina nhớ lại địa điểm người thợ bảo trì ở Ozyorsk tìm thấy chiếc xe tải bị bỏ lại của giáo sư Archibald Polk.
Trên bờ hồ Karachay.
Bà lắc đầu. Không cần phải săn lùng giáo sư Polk. Ông ta đã chết.
Có ánh sáng phía trước.
Phản chiếu hy vọng cho một tương lai rạng ngời hơn.
Trái tim của chiến dịch Thổ Tinh.
3:15 chiều
“Họ đang lên kế hoạch thực hiện điều gì?” Monk vừa đi dọc bờ sông vừa tự hỏi nhưng giọng ông nghe rõ mồn một.
Ông và lũ trẻ đã men theo con sông gợn sóng cả tiếng đồng hồ qua. Địa điểm này cách xa khu vực họ gặp phải gấu xám. Monk đã lội qua khúc suối nguy hiểm ấy nhờ những tảng đá mòn, cứ thế xuôi dòng đến con sông lớn trước mắt, bao phủ bởi một rừng linh sam rậm rạp. Monk đã nghiên cứu kĩ bản đồ địa hình. Có vẻ như họ đang bám theo lưu vực sông đổ ra những triền dốc phía Đồng của dãy núi Ural. Ở phía Tây, nước mưa và tuyết tan từ dãy Ural sẽ đổ vào biển Caspi; cũng từ đây, mọi nguồn nước chảy xuống lưu vực những con sông và hàng trăm hồ lớn, tất cả cuối cùng lại theo hành trình đến Bắc Băng Dương.
Những kế hoạch người Nga vạch ra…
Giọng ông chất chứa hoang mang.
Konstantin nhăn mặt.
“Bác xin lỗi,” Monk nói khẽ hơn vì biết rằng lời ông đã vang khắp quả núi. Chính ông là người đã cảnh báo lũ trẻ chỉ được phép nói thầm, ông quay trở lại việc tuân thủ nguyên tắc dù không thoải mái cho lắm. “Kyrrc của bác trống rỗng nhưng bác biết họ đang lên kế hoạch điên rồ.”
“Họ sẽ thành công,” Konstantin ngẫm trước thực tế. “Chẳng khó khăn gì. Một chiến lược đơn giản. Chúng cháu..” Cậu bé vẫy tay về phía Pyotr và Kiska đang đi sau lưng, hai đứa trẻ gánh chịu số phận tương tự trong một bản doanh ngầm sâu dưới đất, “… diễn tập theo kịch bản và mô hình, đánh giá hậu quả có thể xảy ra, phân tích dữ liệu thống kê toàn cầu, nghiên cứu tác động môi trường, và rồi ngoại suy kết quả sau cùng. Còn hơn cả điên rồ.”
Monk lắng nghe cậu bé nói. Cậu bé giống như một chiếc máy tính hơn là một thiếu niên. Monk lại nhớ đến mảnh thép lạnh phía sau tai Konstantin. Ai trong số họ cũng phải mang theo. Ngay cả Marta cũng bị cấy ghép một khối thép cỡ ngón tay cái dưới lớp lông sau gáy. Konstantin luôn vận dụng thời gian để thể hiện kĩ năng tính toán suốt mấy giờ qua. Một bài tập thần kinh giúp cậu bé trấn tĩnh. Kiska cũng bộc lộ khả năng nhận diện tiếng hót của một loài chim rồi bắt chước bằng âm điệu hoàn hảo.
Chỉ có Pyotr tỏ ra nhút nhát không thể hiện điều gì.
“Thấu cảm,” Konstantin giải thích như thế. “Pyotr đọc được cảm xúc của người khác, cho dù họ che giấu hay hành động ngược lại. Có giáo viên ở trường nói rằng nó là một máy phát hiện nói dối di động. Vì thế mà nó thích chơi với động vật, đa phần dành thời gian ở cùng Bầy thú. Nó cố nài chúng cháu mang theo Marta.”
Monk nhìn cậu bé bước đi bên chú tinh tinh già nua. Ông quan sát, nghiên cứu cách cậu bé tiếp xúc. Cả hai dường như giao tiếp thường xuyên bằng những ánh mắt lặng lẽ, một cái nhíu mày, chìa môi hay một cái vẫy tay.
Bỗng Pyotr cứng người khựng lại. Marta cũng vậy. Pyotr khẽ quay sang Konstantin, lắp bắp điều gì đó bằng tiếng Nga, khá nhanh và sợ hãi, sau đó bằng tiếng Anh. Đôi mắt nhỏ bé hướng lên nhìn Monk như kiếm tìm sự che chở thần kỳ.
“Chúng đang ở đây,” cậu bé thì thầm.
Monk không cần hỏi Pyort đang nhắc đến ai. Tất cả hiện rõ trong nỗi kinh hoàng khi cậu bé cất lời.
Arkady và Zakhar.
Hai con hổ Siberian.
“Đi thôi!” Monk thúc giục, cả nhóm chạy dọc bờ sông. Konstantin tránh đường. Cô em Kiska như một chú linh dương, thoăn thoắt theo chân anh trai. Monk tin tưởng Konstantin khi cậu bé đi theo con đường băng qua những đám việt quất, những bụi cây lởm chởm đá dọc bờ sông. Monk vẫn quan sát phía sau lưng. Phải luôn cẩn trọng. Lá vân sam màu vàng rơm trải dài từ khu rừng rậm tới tận mé sông, tạo thành những khoảng đệm trơn bóng tựa một lớp băng dưới gót chân.
Pyotr trượt ngã, lưng đập xuống đất khá mạnh. Marta nhanh chóng đỡ cậu bé dậy bằng cánh tay phủ đầy lông êm ái. Monk động viên cả nhóm tiếp tục hành trình. Konstantin và Kisha chạy trước mở đường.
Cứ thế chạy, năm phút mệt mỏi trôi qua đủ khiến họ chùn chân. Lượng adrenalin tăng cao vì sợ hãi cũng đốt cháy nguồn năng lượng tích trữ quá nhanh. Thêm mười phút, cả nhóm nhọc nhằn chạy từng bước ngắn, loạng choạng.
Mọi người tụ tập lại bên nhau.
Không có bước chân rượt đuổi, không có âm thanh loạt soạt của cành cây hay lá cỏ. Không còn bóng dáng những con hổ.
Mặt đỏ bừng, Konstantin vừa hổn hển thở vừa quay sang Pyort, nói điều gì đó rất gay gắt bằng tiếng Nga, rõ ràng là đang trách móc cậu bé vì báo động sai.
Monk khua tay. “Không phải lỗi của thằng bé,” ông xoa dịu trong hơi thở dồn dập.
Pyotr có vẻ tổn thương, nét mặt vẫn chưa hết hoảng hốt.
Marta rúc lên khe khẽ, huých vào người Konstantin.
Kiska cũng mắng anh trai bằng mấy câu tiếng Nga.
Monk nghe nói Pyotr không định hình tốt khoảng cách, chỉ là ý nghĩ trong đầu. Ông buộc phải tin điều đó khi lũ hổ đã tới gần.
Pyotr bỗng đứng thẳng như hóa đá, đôi mắt mở to.
Miệng cậu bé há hốc nhưng không thốt nên lời vì sợ hãi.
Chẳng cần phải nói.
“Đi nào!” Monk hét lớn.
Gần như đồng thời, tất cả chạy thẳng đến dòng sông chảy xiết như đã định. Monk túm lấy Pyotr, ôm chặt cậu bé vào lòng và nhảy khỏi bờ sông, ông nghe thấy tiếng nước bắn lên khi Kiska và Konstantin lội xuống lòng sông cách đó vài mét.
Monk nổi trên dòng nước lạnh Pyotr bám chặt vào cổ ông như một sợi dây leo. Ông vặn mình nhìn thấy Marta đu người trên những nhánh cây, đang trèo thật nhanh.
Sâu hơn về phía rừng rậm… có tiếng chuyển động… thoăn thoắt… thấp thoáng màu lông rực lửa.
Monk đạp chân bơi về phía luồng nước sâu và chảy xiết nhất, ông nhận ra Marta vẫn đang chuyền cành từ phía khu rừng rậm. Tinh tinh không biết bơi, cũng không có lực nổi tự nhiên. Marta phải trốn bằng cách khác.
Khoảng rừng âm u xuất hiện một bóng hình to lớn, vằn vện, chân sải rộng, đuôi nhô cao dũng mãnh.
Con hổ nhảy bổ đến bờ sông, lao mình về phía Monk.
Ông khỏa nước, quẫy đạp nhưng bị sức nặng của chiếc ba lô cộng với đứa bé kéo lại. Pyotr siết chặt lấy ông.
Con hổ tung mình, chân sải rộng, lộ móng vuốt, gầm lên hung dữ.
Monk không thể bơi nhanh hơn.
Dòng chảy đã giúp ông.
Vừa lao xuống nước cách đó vài mét, con hổ mất dấu hai con mồi.
Monk lọt vào dòng chảy xiết giữa hai tảng đá. Ông bị cuốn theo một luồng xoáy, ngụp xuống khá sâu rồi mới trồi lên.
Pyotr bị ngạt nước, ho sặc sụa.
Monk ngoái nhìn, con hổ đang đạp nước quay vào bờ. Nó xoay mòng mòng giữa một xoáy nước. Trái ngược với những huyền thoại về loài mèo, hổ vẫn không thích xuống nước. Con quái vật lông lá quẫy người trở lại bờ. Đó không phải cách săn mồi của chúng.
Loài mèo luôn rình rập.
Lũ hổ rõ ràng đã rình rập, lặng lẽ theo gót họ từ trong rừng, kể cả lúc trốn chạy, đúng như cảnh báo lúc đầu từ Pyotr. Cậu bé linh cảm đúng. Bằng bản năng ngàn đời và khôn ngoan, chúng lần theo họ, đợi đến khi con mồi rã rời mới tấn công. Hổ là những vận động viên nước rút, không chạy đường dài. Chúng tính toán thời điểm thích hợp nhất để tấn công.
Dọc bờ sông, một con hổ khác xuất hiện, lượn lờ rình rập, chờ thời cơ. Con hổ đầu tiên lội nước, mình ướt sũng. Nó lắc thân hình nặng trĩu, nước văng tung tóe.
Monk thấy rất rõ cặp hổ. Chúng trông vẫn khỏe nhưng khá hốc hác như bị bỏ đói. Bộ lông xơ xác. Ông nhận ra cả mảnh thép gắn trên vòm sọ, giống như lũ chó sói. Mấu xương lồi ra tai một con hổ, vết thương trong cuộc đi săn từ lâu. Con hổ Zakhar, theo như miêu tả của Konstantin. Đi săn là cách duy nhất để hai con hổ sinh cùng lứa tách rời nhau.
Chuyển động nhẹ nhàng như đang đáp lại một tiếng còi siêu âm, chúng quay đầu biến mất vào bóng tối.
Monk hiểu rằng mọi chuyện chưa kết thúc.
Cuộc đi săn mới chỉ bắt đầu.
Ông nhận ra Konstantin và Kiska cũng mất hút sau khúc lượn của dòng sông. Monk bơi nghiêng đuổi theo hai đứa trẻ. Pyotr run rẩy trên người ông. Monk biết cậu bé không run vì lạnh hay vì sợ hãi lũ hổ. Đôi mắt mở to đầy hoảng loạn không hướng về bờ sông mà dán chặt vào dòng nước đang vây quanh cậu bé.
Điều gì khiến cậu bé kinh hãi?
3:35 chiều
Pyotr vẫn bám chặt lấy Monk. Hai tay bá cổ, hai chân quầng vào thắt lưng. Sóng nước cứ thế dập dờn, lấp đầy mọi thứ xung quanh cậu. Cậu bé cảm nhận được vị ngọt trên môi lẫn mùi rong rêu mục nát, cả cái giá buốt len lỏi vào tai. Lạnh thấu xương.
Cậu không biết bơi.
Cũng giống như Marta.
Cậu bé ngoái nhìn lại phía bờ xa, hy vọng tìm thấy người bạn già.
Pyotr biết rõ nỗi sợ của mình phần nhiều xuất phát từ trái tim Marta. Sông sâu là nỗi ám ảnh chết người đối với Marta. Cậu bé cảm nhận được cả nhịp tim dồn dập của Marta lúc họ băng qua những tảng đá mòn, hàm răng cắn chặt, đôi mắt trong veo căng ra vì hồi hộp.
Nỗi sợ hãi của Marta giờ đây chất đầy trong cơ thể cậu bé.
Pyotr ôm Monk chặt hơn.
Nhưng tình yêu thương của Marta còn sâu lắng hơn cả biển trời. Cậu bé biết điều này từ lúc Marta đến bên cậu, đặt một bàn tay nhăn nheo lên giường xin kết bạn. Hầu như mọi suy nghĩ của Marta khiến cậu cảm thấy dễ chịu sau khi trải qua cuộc phẫu thuật đầu tiên.
Cũng từ cái khoảnh khác nghẹn ngào ấy, Pyotr biết được bí mật của Marta qua đôi mắt màu nâu nhạt hiền hòa. Sự hiện diện của Marta cũng chính là để tìm kiếm an ủi cho bản thân và khiến Pyotr yên lòng.
Từ giây phút ấy, những khiếp sợ và yêu thương đã gắn kết cả hai với nhau.
Cùng với bí mật sâu kín không tách rời.
4:28 chiều
Thủ đô New Delhi, Ấn Độ
“Anh có biết nhiều người có khả năng thấy trước tương lai không?” Tiến sĩ Hayden Masterson vừa hỏi vừa gõ gõ vào máy tính.
Gray mải mê với cốc cà phê khuấy dở. Mọi người tụm lại trong một căn phòng riêng của quán Delhi Internet Café và Video. Kowalski tựa vào tấm cửa kính mờ, một nơi khá kín đáo cho cả nhóm. Anh chàng gỡ tấm băng cá nhân dán trên cằm. Elizabeth đã chăm sóc vết xước cho anh chàng, giờ đang cặm cụi xếp mấy trang giấy vừa in ra cạnh máy tính. Chỉ có bốn người. Rosauro và Luca ra ngoài thuê một chiếc xe mới cho chuyến hành trình sắp tới.
Mặc dù Gray vẫn chưa chắc chắn sẽ phải đi đâu.
Tất cả phụ thuộc vào Masterson – đến giờ này ông ta vẫn chưa có tâm trạng để chuyện trò. Khó khăn lắm ông mới lên tiếng kể từ lúc thoát khỏi cuộc đột kích ở khách sạn. Những nỗ lực giúp ông thoát chết, hay gợi ý để ông thổ lộ lý do ông trở thành mục tiêu ám sát dường như chỉ khiến vị giáo sư thu mình lại.
Ông ta tiếp tục săm soi cây gậy cán ngà trầy trụa. Đôi mắt thẫn thờ – không phải vì hoảng sợ mà vì quá tập trung.
Elizabeth khẽ lắc đầu ra hiệu cho Gray.
Đừng hối thúc.
Vậy là họ đã rời khỏi thành phố Agra, đi về hướng Bắc đến thủ đô New Delhi của Ấn Độ. Dọc con đường dài chín mươi dặm, Gray hai lần đổi phương tiện di chuyển.
Đến vùng ngoại ô đồng đúc của thành phố, Masterson chỉ đưa ra duy nhất một đề nghị: Tôi cần máy tính nối mạng.
Đó là lý do họ ở đây, trong căn phòng chật hẹp của quán cà phê có internet. Vị giáo sư nhanh chóng truy cập vào một địa chỉ cá nhân trên trang web của Đại học Mumbai, phải gõ đến ba lần mật mã mới kết nối được.
“Nghiên cứu của Archibald,” Masterson giải thích và bắt đầuhàng loạt, ông ta cứ lẳng lặng như thế đến khi đọc được một thông tin kỳ lạ về khả năng thấy trước tương lai của loài người.
“Ý ông là gì?” Gray hỏi lại.
Masterson lùi xa màn hình máy tính. “Nhiều người không biết điều này, nhưng vài năm trước khoa học đã chứng minh con người có khả năng nhìn thấy một quãng ngắn về tương lai. Khoảng ba giây hay đại khái thế.”
“Ba giây sao?” Kowalski xen ngang. “Khá nhiều đề ảnh hưởng đến ta nhỉ.”
“Làm được nhiều chuyện đấy,” Masterson đáp.
Gray nhíu mày về phía Kowalski rồi quay sang vị giáo sư. “Nhưng chứng minh khoa học theo như ông nói nghĩa là gì?”
“Anh biết rõ dự án Stargate của CIA?”
Gray và Elizabeth nhìn nhau. “Giáo sư Polk làm dự án này một thời gian.”
“Một nhà nghiên cứu khác của dự án, Tiến sĩ Dean Radin đã tiến hành hàng loạt thí nghiệm trên những người tình nguyện, ông ta kết nối họ với máy phát hiện nói dối, đo độ dẫn truyền trên da và bắt đầu cho họ xem một loạt hình ảnh trên màn chiếu. Những bức ảnh ngẫu nhiên, kinh hoàng có, nhẹ nhàng có, được trộn lẫn với nhau. Những hình ảnh bạo lực và rõ nét sẽ tạo ra phản ứng mạnh trên máy phát hiện nói dối, một nếp gấp điện tử đo được. Sau vài phút, các đối tượng bắt đầu tạo nếp gấp trước khi hình ảnh bạo lực xuất hiện trên màn hình, phản ứng diễn ra trước đó ba giây. Liên tục lặp lại. Các nhà khoa học khác, gồm cả những người đoạt giải Nobel, cưng đại học Edinburgh và đại học Cornell. Cho kết quả thống kê tương tự.”
Elizabeth lắc đầu không tin tưởng. “Làm sao có thể vậy được?”
Masterson nhún vai. “Tôi không biết. Nhưng thí nghiệm được áp dụng cho cả những con bạc. Họ được giám sát lúc chơi bài. Họ bắt đầu có phản ứng tương tự, vài giây trước khi một quân bài được lật. Phản ứng tích cực hiện lên nếu lật được một quân bài tốt, ngược lại nếu là quân bài xấu. Điều này khiến cho một nhà vật lý đoạt giải Nobel ở Đại học Cambridge quá đỗi ngạc nhiên đến độ ông cho tiến hành một nghiên cứu công phu hơn, đưa những đối tượng thử nghiệm này lên máy chụp cộng hưởng từ để nghiên cứu hoạt động não bộ. Ông nhận thấy rằng căn nguyên của những linh cảm này có vẻ như trong não bộ. Nhà khoa học đoạt giải Nobel này – khá kín đáo, không huênh hoang – đưa ra kết luận rằng người thường có thể nhìn thấy những quãng ngắn của tương lai.”
“Thật kỳ diệu,” Elizabeth tỏ ra bất ngờ.
Masterson đi ngay vào vấn đề liên quan đến cô bằng ánh nhìn nghiêm nghị. “Đó là điều khiến cha cô,” ông nhẹ nhàng trình bày, “quyết định làm sáng tỏ tại sao và làm thế nào điều này lại xảy ra. Nếu người thường có thể thấy trước ba giây của tương lai, tại sao lại không là lâu hơn? Hàng giờ, hàng ngày, hàng tuần, hàng năm. Đối với các nhà vật lý, một khái niệm như vậy không nằm ngoài tầm nhận thức. Ngay cả Albert Einstein có lần phát biểu rằng khoảng cách giữa quá khứ và tương lai chỉ là một ảo ảnh liên tục khó di dời. Thời gian cũng là một dạng kích thước khác, cũng giống như khoảng cách. Chúng ta không gặp phải vấn đề gì khi nhìn tới hoặc nhìn lui dọc theo một con đường. Vậy tại sao lại không thể đi dọc thời gian?”
Gray hình dung ra đứa trẻ kỳ lạ. Bức phác họa đền Taj Mahal bằng than của cô bé. Nếu con người có thể nhìn xuyên thời gian như Tiến sĩ Masterson vừa nói, thì tại sao không thể vượt qua những khoảng cách lớn lao? Ông nhớ lại lời của giám đốc Crowe về những thành công mà dự án của CIA đạt được liên quan đến khả năng trực quan từ xa.
“Tất cả những gì cần làm,” Masterson tiếp tục, “là tìm ra những cá nhân hiếm hoi có khả năng nhìn xa hơn người thường. Để nghiên cứu.”
Hoặc khai thác, Gray nghĩ thầm, trong đầu vẫn không nguôi hình ảnh đứa trẻ.
Elizabeth đặt trang cuối cùng vừa in ra lên tập hồ sơ. Cô trao cho Masterson. “Cha tôi… ông ấy đang tìm kiếm những cá nhân hiếm hoi này.”
“Không đâu, con gái ạ, ông ấy không tìm kiếm.”
Mắt Elizabeth bối rối khép hờ.
Masterson vỗ lên tay cô. “Cha cô đã tìm ra họ.”
Gray ngẩng đầu lên. “Gì cơ?”
Tiếng gõ cửa xen ngang, không cho vị giáo sư kịp giải thích. Kowalski rời khỏi chỗ kiểm tra và mở cửa.
Rosauro ló đầu vào, bà đưa cho Gray một xâu chìa khóa vừa thuê, chuyện ở đây xong chưa?”
“Vẫn chưa,” Gray đáp lời.
Masterson ngồi thụp phía sau với một chồng giấy trên tay. “Rồi, đã xong.”
Gray đảo mắt, vẫy tay gọi mọi người. “Đi thôi.”
Ông bước theo sau, trong lòng muốn tẩn cho vị giáo sư cau có này một trận.
Kowalski đi sát bên Gray. “ông ta đang bắt đầu trả thù,” anh chàng cao lớn hất đầu về phía chiếc gậy bên dưới cánh tay Masterson. “Vì những gì ông gây ra cho cái gậy.”
Họ rời quán cà phê, Luca Hearn đang dựa vào mui chiếc Mercedes-Benz G55 suv màu thiếc đỗ trước cổng. Trông giống như một chiếc xe tăng.
Rosauro vòng ra phía trước. Như biết trước có sự phản đối, bà giơ một bàn tay lên. “Phải, nó không được kín đáo cho lắm. Tôi biết mà. Nhưng tôi không biết được chúng ta sẽ đi đâu hay có cần nhanh chóng đến đó không.”
Kowalski nhăn răng cười toe toét. “Hay là cần vượt qua bao nhiêu chiếc xe máy nữa.”
“Bộ truyền động bốn bánh, gàn năm trăm mã lực… và… và…”
Bà nhún vai. “Tôi thích nó.”
Kowalski đi lướt qua bà, săm soi quan sát chiếc xe. “Ồ, tuyệt thật, kể từ giờ phải để Rosauro chọn lựa tất cả phương tiện vận chuyển cho ta!”
Gray thở dài, bước đến bên Tiến sĩ Masterson. “Đến đâu bây giờ?”
Vị giáo sư vừa đọc tập hồ sơ vừa vung gậy về hướng Bắc, rõ ràng là đang hậm hực. Gray mong chờ biết thêm vài chi tiết, nhưng bất lực.
Lời cảnh báo của Elizabeth vang trong đầu. Đừng hối thúc ông ta…
Bỏ cuộc, Gray hướng về chiếc suv. Ông không có thời gian tranh luận. Họ đã trụ lại ở một nơi quá lâu. Ông muốn đi tiếp, cho dù chưa biết chính xác là phải đi đâu. Nếu có ai đó cài phần mềm phát hiện trên trang web của Đại học Mumbai, có thể họ đang bắt đầu truy quét vị trí của cả nhóm.
“Lên xe thôi,” Gray yêu cầu.
Kowalski khum hai bàn tay để nhận chìa khóa.
Gray tung cả chùm về phía Rosauro.
Kowalski quắc mắt nhìn, “ôngthật là xấu xa mà.”
5:06 chiều
Elizabeth không thể chờ thêm. Đi ngược lời khuyên của chính mình, cô quay sang Tiến sĩ Masterson. “Hayden, kết thúc trò chơi của ông đi. Ông muốn nói gì khi bảo là cha tôi đã tìm ra những con người ấy?”
“Như tôi đã nói đấy thôi, con gái.”
Vị giáo sư ngồi ở hàng ghế giữa của chiếc suv, hai bên là Elizabeth và Gray. Bút trong tay, Hayden ngồi đánh dấu trên những trang giấy in cả mười phút đồng hồ. Rosauro liếc nhìn họ từ chiếc ghế tài xế. Kowalski ngồi ở hàng ghế trước, dáng vẻ ương ngạnh, hai tay bắt tréo hờn dỗi.
Luca ngồi phía sau, dựa người về trước lắng nghe.
Hayden giải thích, “Mười năm cha cô đã thu thập và so sánh những mẫu DNA triển vọng nhất của những thiền sinh và người có khả năng huyền bí ở Ấn Độ. Ông đi khắp nơi, từ Bắc chí Nam. Ông đối chiếu hàng tập dữ liệu, tham khảo chéo những quy luật di truyền, ông tiến hành cả một mô hình thống kê phân tích khả năng trí tuệ so với những khác biệt di truyền.”
“Ông thử nghiệm trên cả dân làng của Luca,” Elizabeth xen vào.
Người đàn ông Gypsy đằng hắng tỏ ra đồng ý.
“Vì họ xuất phát từ vùng Punjab,” Hayden tiếp tục.
“Tại sao điều đó lại quan trọng?” Gray thắc mắc.
“Để tôi chỉ cho anh xem.” Vị giáo sư lục tìm mất nửa phút từ trong đống giấy tờ, rồi rút ra một tờ. “Cha cô, Elizabeth, là một thiên tài thực sự, nhưng bị đồng nghiệp đánh giá quá thấp. Ôngđã xác định được ba gen có vẻ như là phổ biến đối với những người có những đặc điểm khác thường nhất. Cũng giống như rất nhiều phát hiện khoa học khác, đây quả là một khám phá kết hợp giữa tài năng và may mắn. Ông tiếp tục nghiên cứu những gen này và để ý thấy rất nhiều trong số những cá nhân tài năng nhất có biểu hiện tự kỷ ở những mức độ khác nhau.”
“Tự kỷ sao?” Elizabeth ngạc nhiên hỏi. “Sao lại là tự kỷ?”
“Vì quá trình thực hiện các chức năng xã hội khi kết hợp với tình trạng tinh thần suy nhược có thể tạo ra một số khả năng bác học đáng kinh ngạc.” Hayden vỗ nhẹ lên đầu gối cô. “Cô có biết là rất nhiều nhân vật chủ chốt trong lịch sử có khuynh hướng tựkỷ không?”
Elizabeth lắc đầu.
Ông giơ ngón tay lên đếm từng cái tên. “Trong lĩnh vực nghệ thuật có Michel Angelo, Jane Austen, Emily Dickinson cùng với Beethoven và Mozart. Trong khoa học có Thomas Edison, Albert Einstein, and Isaac Newton. Chính trị thì có Thomas Jefferson. Ngay cả Nostradamus, người ta cũng tin là bị tự kỷ ở một mức độ nào đó.”
“Nostradamus?” Gray chợt nhận ra. “Nhà chiêm tinh người Pháp sao?”
Hayden gật đầu. “Những con người này đã thay đổi lịch sử, phát triển nhân loại, đưa chúng ta đi lên. Archibald rất thích trích dẫn một câu của Tiến sĩ Temple Grandin, một nhà văn nữ mắc chứng tự kỷ được độc giả ưa chuộng. “Nếu bởi một yêu thuật nào đó, căn bệnh tự kỷ bị nhổ tận gốc rễ khỏi thế giới này, thì con người vẫn đang đứng trước cửa hang mà hòa mình vào đống lửa bập bùng”. Và tôi tin là bà ấy đúng.”
“Còn cha tôi?”
“Hầu như là chắc chắn. Cha cô bắt đầu tin rằng có mối liên hệ rạch rời giữa chứng tự kỷ với những nghiên cứu của ông về trực giác và linh cảm.”
“Ông ấy đã tìm ra mối liên hệ này sao?” Gray tỏ ra quan tâm.
Vị giáo sư thở dài. “Trong khi chúng ta không biết nguyên nhân chính xác của bệnh tự kỷ, hầu hết các nhà khoa học lại thống nhất rằng có mười gen khác biệt có khả năng góp phần vào việc xuất hiện tình trạng này. Vì thế Archibald đã đưa mười gen này vào mô hình thống kê và phát hiện ra ba gen mà tất cả những tài năng kiệt xuất đều có chung. Đó là phát hiện quan trọng mà ông đã tìm kiếm bấy lâu. Với ba dấu mốc di truyền này, ông bắt đầu theo dõi về mặt địa lý tần số xuất hiện của chúng trong một tập thể dân cư. Ông lập thành một bản đồ.”
Vị giáo sư chuyền cho Elizabeth trang giấy đặt trên đùi ông. Đó là bản đồ Ấn Độ. Toàn bộ bề ngang của nó có hàng trăm chấm nhỏ.
Elizabeth quan sát rồi đưa cho Gray.
Hayden giải thích, “Mỗi dẩu chấm biểu trưng cho một cá nhân mang dấu mốc di truyền. Nhưng nếu nhìn kĩ sẽ thấy rất nhiều chấm xuất hiện xung quanh những thành phố lớn như Delhi và Mumbai. Điều này cũng hợp lý thôi, vì có nhiều người sống ở những thành phố đó.”
“Thế còn khu vực trên này?” Gray chỉ về phía Bắc.
Elizabeth hiểu Gray muốn hỏi điều gì. Rất nhiều dấu chấm – nhiều hơn bất cứ chỗ nào khác – co cụm lại ở phía Bác, nơi không đề tên những thành phố lớn.
“Chính xác. Archibal cũng băn khoăn vấn đề tương tự.” Hayden lấy lại bản đồ và gõ nhẹ lên khu vực phía Bắc. “Ông ấy dành ba năm cuối đời trú chân nơi đây. Ông ấy muốn khám phá lý do tại sao các dấu hiệu lại co cụm nhiều đến vậy.”
“Có gì ở đó?” Cô hỏi.
“Vùng Puniab”. (một khu vực địa lý trải rộng qua biên giới giữa Pakistan và Ấn Độ (ND). Câu trả lời của Luca Hearn xen vào từ phía sau Elizabeth. “Quê cha đất tổ của người Romani.”
“Đúng vậy. Vì thế mà Archibald đã liên hệ với các thị tộc Gypsy ở châu Âu và cả ở Mỹ. Ông phát hiện một điều khá trùng khớp là lịch sử phong phú về tiên tri và bói toán cũng xuất phát từ cùng một địa điểm, sau đó lan rộng đến châu Âu và xa hơn nữa. Ông nghiên cứu xem dấu mốc di truyền có được tìm thấy ở người Gypsy hay không.”
“Có hay không?” Elizabeth đặt câu hỏi cho cả Hayden và Luca.
Hayden trả lời, “Có, nhưng không ở những khu vực tập trung mà ông nghi ngờ. Điều này khiến cha cô thất vọng.”
Luca tỏ thái độ chưa đồng tình,
Cô quay sang ông. “Chuyện gì cơ?”
“Có một lý do,” Luca lên tiếng.
Gray xoay người lại. “Ý anh là gì?”
“Lý do tại sao chúng tôi thuê giáo sư Polk.”
Elizabeth nhớ ra là người trưởng tộc Gypsy chưa bao giờ thổ lộ chi tiết vấn đề ấy. Ông bắt đầu giải thích trên máy bay, sau khi câu chuyện bị cắt ngang.
“Như tôi kể trước đó, giáo sư Polk đi thu thập mẫu máu từ những chovihanis tài năng nhất của chúng tôi. Không phải những kẻ giả mạo mà là những tiên tri thực thụ. Nhưng rất ít người trong số chúng tôi đáp ứng tiêu chuẩn này.”
“Tại sao?”
“Bởi vì linh hồn của những người dân chúng tôi đã bị đánh cắp.”
Giọng chậm rãi và cứng cỏi, Luca tiếp tục kể câu chuyện chất chứa bí mật sâu kín giữa những thị tộc, xảy ra cách đây hàng thế kỷ. Bí mật liên quan đến một thị tộc được yêu quý nhất. Tiết lộ bí mật này với gadje, người ngoài, là điều cấm kỵ. Thị tộc ấy sống tách biệt, ẩn dật và được các thị tộc khác bảo vệ. Đó chính là nguồn di sản tiên tri của người Gypsy. Chỉ trong những dịp hiếm hoi, một số chovihanis mới rời đi và sống giữa các thị tộc khác, chia sẻ khả năng của họ, lấy chồng hoặc lấy vợ. Nhưng hầu như họ sống biệt lập và riêng rẽ. Cách đây năm mươi năm, thị tộc này bị phát hiện. Tất thảy đàn ông và phụ nữ đều bị giết hại, phanh thây, chôn dưới một nấm mồ cạn giá buốt.
Giọng Luca trở nên xót xa. “Chỉ có điều trong nấm mồchung ấy, không có xương của trẻ em.”
Elizabeth hiểu được vấn đề. “Ai đó đã mang chúng đi.”
“Chúng tôi chưa bao giờ khám phá ra kẻ nào… nhưng sẽ không bao giờ ngưng tìm kiếm. Chúng tôi đã hy vọng giáo sư Polk sẽ tìm ra dấu vết bị đóng băng bấy lâu nhờ cách thức mới của riêng ông – DNA.”
“Ông ấy có thành công không?” Elizabeth hỏi.
Luca lắc đầu. “Ông chưa từng công khai điều này. Ông đặt thêm một nghi vấn cách đây vài tháng, ông muốn biết thêm về tiện dân, giới không đằng cấp ở Ấn Độ.”
Elizabeth không hiểu điều này có ý nghĩa gì. Cô liếc nhìn Hayden nhưng vị giáo sư cũng nhún vai. Cô để ý thấy đôi mắt ông khép lại. Ông biết được sự thật nào đó.
Nhưng thay vì giải thích, ông dùng bút đánh một dấu X nhỏ lên bản đồ.
“Gì vậy?” Elizabeth thắc mắc, cô thấy nó nằm ngay chính giữa những dấu chấm ở vùng Punjab.
“Đây sẽ là điểm đến tiếp theo nếu ta muốn có câu trả lời.”
“Chỗ đó ở đâu?” Gray nhấn mạnh.
“Nơi Archibald mất tích.”

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.