Sống Và Khát Vọng

Mơ ước



Học lại cách ước mơ

Có đến 3 lựa chọn vào đại học, tôi thích ngành kinh doanh nhất nhưng lại nghĩ ngành Công Nghệ Thông Tin sẽ dễ kiếm việc làm khi ra trường hơn, nên rốt cuộc tôi lại chọn ngành Công Nghệ Thông Tin. Đây là một lựa chọn làm tôi cảm thấy “hơi tiếc” vì sau này lãnh vực mà tôi đam mê thật sự là kinh doanh chứ không phải công nghệ.

Nhiều lúc tôi đã từng nghĩ, nếu như tôi nhận được sự hướng nghiệp rõ ràng, cũng như được huấn luyện về kỹ năng sống từ sớm để tự tin vào ước mơ của mình, thì có lẽ tôi đã có một lựa chọn sáng suốt hơn là “học để ra trường dễ kiếm việc”, và cũng có lẽ cuộc đời tôi đã thay đổi theo hướng khác tốt hơn. Đó cũng là lý do tại sao tôi mong muốn giúp các em học sinh nhìn thấy giá trị thật của bản thân mình, từ đó nỗ lực đi tìm con đường phù hợp với mình từ sớm, thay vì chỉ biết “học để thi”, “học để có bằng” hay “học để ra trường dễ kiếm việc làm”.

Dĩ nhiên là không ai có thể thay đổi cái “nếu như” ấy. Bởi vì tôi chọn học ngành Công Nghệ Thông Tin cho nên sau này để trở thành một doanh nhân, dịch giả và chuyên gia đào tạo, tôi đã phải tự đầu tư vào chính mình thông qua nhiều khóa học kỹ năng khác nhau, cũng như phải tự học rất nhiều qua sách báo, Internet,… Nhưng cái “nếu như” ấy cũng chính là một trong những lý do tại sao tôi muốn mang quyển sách Tôi Tài Giỏi, Bạn Cũng Thế ! và khóa học cùng tên đến càng nhiều học sinh, sinh viên càng tốt.

Quay lại câu chuyện học hành của tôi, khi tôi vừa vào năm nhất của ngành Công Nghệ Thông Tin (ĐH Khoa Học Tự Nhiên), thì ngay học kỳ đầu tiên ấy nhà trường đã có thông báo về việc Đại Học Quốc Gia Singapore (National University of Singapore – gọi tắt là NUS) đến trường tôi tuyển sinh. Mặc dù hoàn cảnh gia đình tôi đã đỡ nghèo hơn trước nhiều, nhưng cũng chẳng phải là dư dả gì, cho nên tôi cũng chẳng bao giờ dám mơ hay dám tin rằng mình sẽ có thể đi du học. Chính vì thế mà tôi đã rất thờ ơ và chẳng mấy quan tâm đến cơ hội đó. Chỉ vì suy nghĩ hạn hẹp, cho rằng mình không thể, cho rằng không bao giờ đến lượt mình đi du học, tôi đã lãng phí mất một năm cuộc đời mình.

Chưa kể, gần cuối năm học ấy, tôi đột ngột bị đau ruột thừa cấp và phải phẫu thuật ngay trước kỳ thi cuối năm. Thế là tôi không còn lựa chọn nào khác là phải bỏ thi 2 môn và buộc phải… thi lại. Mặc dù không hẳn là do tôi thi trượt, nhưng cái cảm giác thi lại cũng làm tôi phần nào mất tự tin vào chính bản thân mình. Giờ ngẫm lại mới thấy, mất tự tin vì chuyện đó là hết sức vô lý, nhưng tôi đã mất tự tin thật mà cũng chẳng hiểu tại sao. Có vẻ tự tin là một kỹ năng có thể rèn luyện được nhiều hơn là một tính cách. Đó là lý do tại sao chúng ta vẫn thường nhắc nhở nhau: “Bạn phải học cách tin vào chính mình”.

Năm tiếp theo, NUS lại đến trường tôi để tuyển sinh. Lần này thậm chí tôi còn thờ ơ hơn nữa vì tôi nghĩ một sinh viên với “thành tích” thi lại 2 môn (cho dù là với lý do đau bệnh bất ngờ đi nữa) thì cũng khó lòng được tuyển vào NUS. Lẽ ra, tôi đã để cơ hội ấy vuột mất khỏi tầm tay của mình một lần nữa nếu không nhờ người yêu của tôi lúc bấy giờ.

Hoàn toàn khác với tôi, cô ấy vốn là con của một gia đình rất khá giả, luôn mang trong mình một ước mơ cháy bỏng là đi du học, nên thường xuyên tìm kiếm những cơ hội để được ra biển lớn. Lần đó, chính cô ấy đã kéo tôi đi dự từ hội thảo du học này sang hội thảo du học khác. Đi đến đâu, tôi cũng thấy hoa mắt với những con số học phí kinh hoàng của các trường đại học nước ngoài, chưa kể đến chi phí sinh hoạt, chi phí đi lại, và đủ loại chi phí khác. Cho nên đối với tôi, việc đi các hội thảo du học chỉ là đi cho biết, chủ yếu là để làm tài xế và chiều lòng người yêu.

Thật lòng mà nói, tôi chẳng hề có ý định nộp đơn vào NUS. Việc tôi nộp đơn vào NUS cũng chính là do người yêu tôi đã động viên khuyến khích tôi cùng nộp hồ sơ dự tuyển vào NUS với cô ấy. Lúc đó, tôi cũng chỉ cùng nộp hồ sơ cho cô ấy vui, chứ trong bụng tôi thầm nghĩ, cho dù có trúng tuyển thì gia đình tôi cũng chẳng có tiền mà cho tôi đi du học, còn học bổng toàn phần thì tôi không dám mơ tới. Dường như sống quá lâu trong cái nghèo và sự tự ti về cái nghèo đã khiến tôi cho phép mình ngừng mơ ước từ lúc nào chẳng hay…

Khi chúng ta còn bé, ai cũng từng mơ ước, và không những thế, mơ ước thật nhiều. Rồi khi ta lớn lên, ta bắt đầu để cho những va chạm với cuộc đời khiến cho ta phải “thực tế” hơn. Để rồi sau một thời gian sống mãi với cái “thực tế” ấy, ta dần đánh mất đi những ước mơ của mình. Đến một lúc nào đó giật mình nhìn lại xung quanh, nhìn thấy cái thực tế là những người bạn vốn từng bị ta cho rằng “mơ mộng” hay “thiếu thực tế”, đang được sống vì ước mơ của họ, ta bất chợt chạnh lòng. Những lúc ấy ta tự hỏi, ai đã đánh cắp những mơ ước của mình, và rồi bàng hoàng nhận ra rằng, chính bản thân ta đã tước đoạt đi mất những ước mơ của chính mình.

Nếu như loài vật sống giờ nào hay giờ nấy, thì con người chúng ta không chỉ biết sống với hiện tại mà còn biết sống vì tương lai. Mơ ước là một trong những điều phân biệt giữa con người và con vật. Mơ ước là quyền thiêng liêng của mỗi người cho dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Nhưng mỗi người chúng ta tự hỏi, liệu chúng ta có bao giờ vô tình cho phép chính mình cướp đi cái quyền ấy của bản thân, bằng cách đổ lỗi cho mọi thứ chung quanh. Để rồi, chính bản thân mình lựa chọn dừng mơ ước. Đó có lẽ là một trong những nguyên nhân lớn nhất khiến nhiều người mãi mắc kẹt ở tầng dưới của cuộc sống.

Cho nên, nếu một ngày nào đó bạn bất chợt nhận ra rằng mình đã ngừng mơ ước, hãy tìm mọi cách để lấy lại nó. Hãy lựa chọn tiếp tục mơ ước và hành động vì ước mơ của mình. Hãy nhớ rằng, cái ngày bạn cho phép bản thân mình dừng mơ ước cũng là ngày bạn chết – chết ở bên trong chính sự sống của thể xác bên ngoài. Nên dù sao đi nữa, hãy sống vì ước mơ của mình.

Hành động vì ước mơ

Nghèo không phải là một cái tội

Về phần mình, mặc dù lúc đầu mục đích nộp hồ sơ xin đi du học chỉ vì để cho người yêu tôi vui lòng, nhưng khi tôi bắt đầu hành động, những ước mơ của tôi cũng bắt đầu sống lại. Tôi nhớ lại những ngày tháng tuyệt vời khi tôi sống vì những mơ ước của mình: mơ ước được đi máy bay ra Hà Nội, mơ ước vào lớp chuyên Toán, mơ ước vào trường Lê Hồng Phong, mơ ước trở thành thủ khoa kì thi tốt nghiệp,… Có những mơ ước tôi làm được, có những mơ ước tôi không làm được.

Nhưng cho dù có được hay không được, tôi đã thật sự sống và chiến đấu vì những ước mơ ấy. Bất chợt tôi nhận ra rằng, mình phải tiếp tục mơ ước, bởi vì điều quan trọng không phải là tôi có đạt được mơ ước hay không, mà điều quan trọng là tôi có dám ước mơ hay không.

Dĩ nhiên, mơ ước không thôi thì chưa đủ…

Sau khi nộp bảng điểm cũng như vượt qua vòng phỏng vấn sơ tuyển, tôi được “tạm chấp nhận” vào NUS. Tại sao lại là “tạm chấp nhận”? Bởi vì mặc dù thành tích học tập của tôi tương đối tốt, nhưng lúc ấy trình độ tiếng Anh của tôi vẫn còn kém so với đòi hỏi của trường. Họ ra điều kiện là tôi phải đạt được điểm IELTS ít nhất 6.0 thì mới được nhập học trong khi trình độ IELTS của tôi lúc đó chỉ đạt tầm 4.0 hay nhiều lắm là 4.5 mà thôi.

Ngặt nghèo hơn nữa, lúc ấy kì thi IELTS chỉ được tổ chức tại Việt Nam mỗi 3 tháng một lần và lệ phí thì rất cao (ít ra là so với khả năng tài chính của gia đình tôi). Tại thời điểm tôi biết mình buộc phải đạt IELTS 6.0 để được đi du học, kì thi IELTS tiếp theo sẽ diễn ra chỉ trong vòng khoảng chưa đầy 2 tháng nữa. Đó là cơ hội duy nhất của tôi. Nếu tôi không tận dụng được nó thì cánh cửa du học của tôi sẽ hoàn toàn bị đóng lại. Bởi vì họ chỉ có thể đợi tôi nhiều lắm là 3 tháng để hoàn thành thủ tục nhập học. Nếu trễ, tôi sẽ mất cơ hội. Trong khi đó, nếu tôi không đạt đủ 6.0 trong kì thi IELTS lần này, thì kì thi IELTS tiếp theo đến tận 3 tháng nữa mới diễn ra. Cho nên đối với tôi, chắc chắn sẽ không có lần thứ hai.

Nhưng đó chỉ là một trong vô số những khó khăn thử thách mà tôi phải đối diện lúc ấy. Thách thức lớn nhất đối với tôi thật ra nằm ở vấn đề tài chính. Tiền ở đâu để học luyện thi IELTS? Tiền ở đâu để đóng lệ phí thi? Tiền ở đâu để đi du học?…

Khi nói về tiền, có những người nghèo vẫn thích than mình không có điều kiện, và bởi vì không có điều kiện nên không làm được cái này hay cái kia. Tôi cũng đã từng như thế. Chỉ vì tự cho mình không có điều kiện, tôi đã cho phép mình không bao giờ mơ đến chuyện đi du học. Đối với tôi, chuyện đi du học quá là xa xỉ so với khả năng tài chính của gia đình mình. Và chính cái suy nghĩ ấu trĩ đó đã suýt cướp mất của tôi cả một tương lai tươi sáng.

May mắn thay, lúc đó tôi đã kịp nhận ra được rằng, tôi có thể nghèo tiền nghèo bạc, nhưng tôi không thể cho phép mình nghèo ý chí, nghèo quyết tâm. Nếu như cả đời này, tôi cứ ngồi đó mà than mình không có điều kiện để đầu tư vào bản thân mình, thì đến bao giờ tôi mới có điều kiện?

Tôi chẳng thấy ai than mình nghèo mà nhờ vậy giàu lên. Tôi cũng chưa bao giờ thấy ai than mình thất bại mà nhờ đó thành công. Tôi chỉ biết những người nghèo đã hành động để làm giàu. Tôi chỉ biết những người thất bại đã đứng dậy để thành công. Cho nên, nếu như tôi chỉ biết than vãn mình nghèo, mình không có điều kiện, thì cả cuộc đời này, tôi sẽ mãi phải than mình nghèo, mình không có điều kiện. Chính vì thế, tôi quyết tâm tìm cách giải quyết từng vấn đề, loại bỏ từng hòn đá ngăn đường tôi tới ước mơ của mình, thay vì ngồi đó than thân trách phận.

Vượt lên hoàn cảnh

Suy nghĩ theo hướng ấy. Tôi bắt đầu tìm cách giải quyết từng vấn đề một. vấn đề lớn nhất cần phải giải quyết trước tiên là: “Tiền ở đâu để đi du học?”.

Tôi tìm hiểu và được biết rằng, chính phủ Singapore có chính sách hỗ trợ 80% học phí dành cho những sinh viên được tuyển vào NUS, vì NUS là một trong những trường đại học hàng đầu của Singapore và của thế giới (NUS đã từng được xếp vào nhóm 20 trường đại học hàng đầu thế giới).

Điều kiện duy nhất để sinh viên nước ngoài học tại NUS có thể nhận được khoản trợ cấp 80% học phí này là phải làm việc ở Singapore trong vòng ít nhất 3 năm sau khi tốt nghiệp.

Đối với tôi, đây là một điều kiện khá dễ dàng vì tôi nghĩ, ở đời sống phải có trước có sau. Nếu như chính phủ Singapore đã tạo điều kiện cho tôi, thì chẳng có lý do gì tôi không góp một phần sức của mình cho đất nước Singapore. Hơn nữa, làm việc trong môi trường chuyên nghiệp, đa văn hóa, đa chủng tộc như ở Singapore là một cơ hội tốt để tôi có thể cọ xát và học hỏi được nhiều thứ. Nói chung, yêu cầu này có vẻ có lợi cho tôi hơn là một ràng buộc làm tôi thiệt thòi (và sau này đúng là như vậy thật). Cho nên, tôi không ngại ngần nhận khoản trợ cấp này.

Vậy còn 20% học phí còn lại và những chi tiêu khác thì sao?

Sau khi mày mò tìm kiếm thông tin, tôi được biết rằng, đối với những sinh viên có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhà trường thông qua các ngân hàng sẽ hỗ trợ cho vay 20% học phí còn lại, và đặc biệt là cho vay cả chi phí ăn ở tối thiểu trong suốt quá trình học. Chưa kể từ năm thứ 2 trở đi, tôi có thể xin việc làm thêm để trang trải cho các khoản chi phí của mình. (Luật pháp Singapore cấm sinh viên nước ngoài học năm nhất đi làm để tránh các tiêu cực.)

Như thế, về vấn đề tài chính để đi du học có thể xem là tạm ổn. Phần còn lại là thuyết phục ba mẹ ủng hộ tôi, và hơn nữa là ủng hộ tài chính để tôi có thể luyện thi và đăng ký thi IELTS.

Tôi về nói với mẹ trước, mẹ có vẻ ủng hộ. Đến khi ba về, nghe chuyện tôi mong muốn đi du học, mặt ba biến sắc và gạt phăng ý tưởng ấy đi. Lúc đầu tôi giận ba lắm. Nhưng khi thấy ba ngồi suy nghĩ đăm chiêu, tôi chợt hiểu ra rằng, không phải ba không muốn cho tôi đi du học mà vì ba không biết làm cách nào để có thể lo được tiền cho tôi. Cũng có thể lúc ấy, ba tự trách bản thân mình vì không lo được cho tôi đi du học như con người ta.

Hiểu được điều đó, tôi lập cả một kế hoạch để thuyết phục ba một cách kiên trì, giải thích cho ba hiểu việc đầu tư vào tương lai là hữu ích như thế nào, giải thích cho ba hiểu gia đình tôi sẽ không phải lo gì về tài chính (vì tôi mượn tiền ăn học, thì sau này tôi sẽ là người trả nợ chứ không phải gia đình). Cuối cùng thì tôi cũng có được sự ủng hộ của ba. Và dĩ nhiên, ba mẹ cũng sẵn sàng hỗ trợ tài chính để tôi học luyện thi và đăng ký thi IETLS.

Thật lòng mà nói, riêng số tiền lệ phí thi IELTS lúc ấy thôi đã gấp đôi số lương của ba mỗi tháng. Cho nên đối với tôi, thật sự không có cơ hội thứ hai. Ngay cả nếu có thì tôi cũng không dám mở miệng ra xin ba cho tôi đóng tiền thi IELTS lại lần nữa. Tôi không còn lựa chọn nào khác là phải chiến đấu bằng tất cả sức lực của mình và phải chiến thắng.

Trong vòng gần 2 tháng sau đó, tôi dành tất cả thời gian của mình để học tiếng Anh. Tôi biết mình chỉ có một cơ hội này mà thôi, nên tôi không thể cho phép bản thân mình thất bại. Tôi học ngày học đêm: nghe, nói, đọc, viết. Thậm chí, khi bà ngoại tôi bệnh phải vào bệnh viện, tôi hàng ngày mang tập sách vào viện, vừa ngồi bên giường trông ngoại vừa học tiếng Anh.

Trong những ngày tháng đó, tôi nhận ra rằng, tài sản quý giá và ý nghĩa nhất trong cuộc sống mà mỗi con người có được là MƠ ƯỚC. Khi chúng ta có một mơ ước để sống và chiến đấu vì nó, chúng ta có một lý do để sống mạnh mẽ và đầy quyết tâm, một lý do để sống tốt hơn từng ngày, một lý do để tin vào chính bản thân mình và một lý do để thật sự sống. Tôi cũng nhận ra rằng, từ khi tôi vào đại học, tôi đã không thật sự sống mà đơn giản chỉ tồn tại bởi vì tôi quên mơ ước. Tôi chỉ muốn tốt nghiệp, ra trường và rồi có một việc làm. Tôi chẳng bao giờ mơ đến một bầu trời cao rộng mà ở đó mình là cánh chim đại bàng tự do tung bay. Cho đến khi, tôi nhận ra rằng:

Cuộc đời có một bầu trời, còn ta có một đôi cánh.

Và rồi kì thi IELTS cũng đến, tôi bước vào phòng thi với quyết tâm kì thi này sẽ giúp tôi tung cánh bay ra biển lớn. Ngày có kết quả, tôi run đến mức phải nhờ mẹ vào xem giúp chứ không dám vào. Sau một hồi lâu, mẹ bước ra với gương mặt tươi cười. Tôi đạt 6.5 (cao hơn yêu cầu 0.5), và không những vậy, tôi còn là người cao điểm nhất trong đợt thi ấy. Cánh cửa du học đã chính thức mở toang với tôi.

Ngày nhận được bộ hồ sơ mời nhập học gửi từ Singapore về, tôi và gia đình vui mừng như mở hội. Cả ngày, tôi ngồi mân mê bộ hồ sơ, đọc đi đọc lại như thể mình đang sống trên mây.

Tin vào ước mơ

Cùng với niềm sung sướng, tôi nghiệm ra một điều rằng, tôi phải dám mơ ước nhiều hơn nữa; và thành công bắt đầu từ việc lựa chọn tin vào chính bản thân mình. Mục tiêu tiếp theo của tôi là giành được suất học bổng toàn phần với tên gọi ASEAN Scholarship (Học bổng Đông Nam Á).

Để đạt được học bổng này, tôi phải trải qua một vòng phỏng vấn sơ tuyển. Và tiếp theo sau đó, tôi phải viết một bài luận tiếng Anh để trả lời cho câu hỏi: “Tại sao bạn xứng đáng được nhận Học bổng Đông Nam Á?”.

Khi viết bài luận này, tôi tự hỏi mình, nếu tôi nói là tôi giỏi thế này hoặc tài thế kia, thì liệu đó có phải là những lý do thuyết phục và đích thực khiến cho tôi xứng đáng đạt được học bổng ấy? Nếu thế thì có lẽ tất cả những thí sinh khác họ cũng xứng đáng mà không cần phải thêm một vòng xét tuyển nào cả, vì nói cho cùng, tất cả chúng tôi đến được đây đều nhờ kết quả học tập và phỏng vấn xuất sắc ở vòng đầu. Vậy điều gì khiến tôi xứng đáng nhận được học bổng này?

Tôi suy nghĩ, suy nghĩ và suy nghĩ mãi… Cho đến một lúc, tôi chợt nhận ra câu trả lời thật ra đang ở ngay trước mắt tôi: MƠ ƯỚC. Thế là tôi bắt đầu đặt bút viết: “Tôi xứng đáng được nhận học bỗng này bởi vì chỉ đơn giản một điều: Tôi dám mơ ước”. Đó là cách tôi mở đầu bài luận của mình. Tôi không nhớ rõ những gì tôi viết tiếp theo sau đó. Tôi chỉ nhớ rằng tôi đã viết một mạch bằng tất cả đam mê và nhiệt huyết về những ước mơ cho bản thân tôi, cho những người tôi yêu thương và cho Tổ quốc tôi – nơi tôi gọi bằng hai tiếng thân thương “đất mẹ”.

Kết quả là tôi được lọt vào vòng 3 – phỏng vấn trực tiếp bởi vị giáo sư trưởng khoa. Trước khi đến buổi phỏng vấn này, tôi suy nghĩ rất nhiều về những điều mà có thể thầy

sẽ hỏi để chuẩn bị trước. Tôi đoán chừng, có thể thầy sẽ hỏi tôi học hành thế nào, điểm số ra sao, hoặc cũng có thể thầy sẽ hỏi những câu hỏi hóc búa để thử thách trí thông minh của tôi. Ngạc nhiên thay, khi bước vào buổi phỏng vấn, thầy hỏi những câu hỏi hết sức đơn giản như là: “Em sinh ra ở đâu?”, “Em lớn lên như thế nào?”, “Gia đình và xuất thân ra sao?”, “Ngoài học tập thì em thích làm những gì khác?”, “Em đã bao giờ thất bại chưa?”,… Tôi nghĩ cứ thành thật là tốt nhất, cứ thế tôi kể chân thật về xuất thân của tôi, về gia đình tôi, về cả những thất bại và những bài học.

Cuối cùng, câu hỏi “khó” nhất đó là: “Em muốn sống cuộc sống của mình như thế nào?”.

Thật tình mà nói, tôi cũng không nhớ chính xác mình đã trả lời câu hỏi này như thế nào. Tôi chỉ nhớ cái cảm xúc tuôn trào lúc ấy, dường như tôi không còn đang trả lời phỏng vấn nữa mà đang chia sẻ ước mơ của mình. Câu nói duy nhất mà tôi vẫn còn nhớ, đó là ngay khi kết lại những chia sẻ của mình, tôi nhìn vào mắt vị giáo sư đáng kính và nói rằng: “Em muốn sống vì ước mơ của mình”.

Mặc dù trả lời như vậy, nhưng với kinh nghiệm sống còn non nớt của mình lúc ấy, tôi thật sự không hiểu lắm ý nghĩa của những câu hỏi rất đơn giản và đời thường mà vị giáo sư hỏi, nhất là khi những câu hỏi ấy được hỏi để quyết định xem tôi có xứng đáng nhận suất học bổng trị giá đến gần 1 tỉ đồng hay là không. Tôi cứ tưởng đi phỏng vấn học bổng là phải trả lời những câu hỏi cao siêu hóc búa lắm chứ.

Mãi về sau này, cho đến khi bắt đầu làm công việc huấn luyện – đào tạo trong vai trò của một diễn giả và chuyên gia đào tạo, nhìn lại, tôi mới chợt nhận ra rằng, điều quan trọng và cũng là yếu tố quyết định giúp tôi giành được suất học bổng toàn phần ấy không phải là tôi thông minh hay có điểm số cao như thế nào, mà là những kỹ năng sống cơ bản mà tôi có được. Thế mới hiểu tại sao người đời vẫn thường nói, kiến thức chuyên môn học thuật chỉ đóng góp một phần vào thành công của mỗi người, còn phần lớn thành công quyết định bởi những kỹ năng tư duy thành công mà người ấy có được.

Để kết lại chương này, một lần nữa tôi muốn nhắc đến hai từ: MƠ ƯỚC. Hãy luôn nhớ rằng, điều quan trọng không phải là bạn có đạt được mơ ước hay không, mà điều quan trọng là bạn có dám ước mơ hay không. Cái ngày mà chúng ta cho phép bản thân mình dừng mơ ước và ngừng phấn đấu vì những ước mơ của mình, cũng là cái ngày bạn đã “chết” – chết từ bên trong chính tâm hồn mình. Và nếu bạn phải sống, thì hãy sống vì những ước mơ cao đẹp của mình.


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.