Titanic - Trong Vũ Trụ

CHƯƠNG 2



Ngày mùng 7 tháng 7
Hai năm sau
Hủy!
Trong tiếng gầm của động cơ đẩy tên lửa rắn và tiếng ken két của tàu vũ trụ bay theo quỹ đạo, lệnh hủy vang lên rất rõ trong đầu chuyên gia đặc vụ Emma Watson. Cô đã nghe thấy mệnh lệnh đó qua máy bộ đàm. Thực sự thì không ai trong phi hành đoàn nói câu đó nhưng lúc ấy, cô biết đó là lựa chọn duy nhất và phải được thực hiện nhanh chóng. Cô chưa nhận được quyết định từ người chỉ huy Bob Kittredge hay phi công Jill Hewitt đang ngồi trong buồng lái ngay phía trước. Cô không cần điều đó. Họ đã làm việc với nhau lâu tới mức có thể đọc suy nghĩ của nhau. Các bóng đèn cảnh báo màu hổ phách nhấp nháy trên bảng điều khiển tàu con thoi đã nói rõ các động thái tiếp theo của họ.
Vài giây trước đó, tàu Endeavour đã đến điểm Cực đại Q. Trong suốt quá trình tạo ra lực khí động học cực đại, khi tàu vũ trụ chống lại lực cản của không khí thì điểm Cực đại Q sẽ bắt đầu lắc mạnh nhất. Kittredge đã nhanh chóng điều khiển van bướm về mức bảy mươi phần trăm để triệt tiêu độ rung. Lúc này, đèn báo hiệu trên bảng điều khiển cho họ biết họ đã bị mất hai trong số ba động cơ chính. Dù vẫn còn lại một động cơ chính và hai động cơ đẩy tên lửa thì họ cũng không thể nào khiến con tàu bay vào quỹ đạo được.
Họ phải hủy vụ phóng tàu.
– Trung tâm, đây là tàu Endeavour. – Kittredge nói, giọng anh rắn rỏi và vững vàng, không hề có dấu hiệu sợ hãi gì. – Không thể mở van bướm. Các động cơ chính ở trung tâm và bên trái bị tắt khi tới điểm Cực đại Q. Chúng tôi bị mắc kẹt trong pit-tông. Sẽ trở về khu bệ phóng.
– Đã rõ, tàu Endeavour. Chúng tôi xác nhận có hai máy chính đã hỏng. Hãy về khu bệ phóng ngay sau khi các động cơ đẩy tên lửa đã cháy hết.
Emma đã xem lại toàn bộ đống giấy tờ liệt kê những mục cần kiểm tra và tìm thấy tấm biển ghi “Hủy việc trở lại khu bệ phóng”. Toàn bộ phi hành đoàn đã thuộc lòng quy trình đó nhưng dưới nhịp làm việc quá gấp của việc hủy khẩn cấp thì một hành động nào đó có thể bị bỏ sót. Những mục cần kiểm tra là tấm phiếu an toàn của họ.
Tim Emma đập rất nhanh, cô xem nhanh tiến trình của việc đó và tô rõ chúng bằng màu xanh dương. Việc hủy bỏ việc trở lại bệ phóng bằng cách tắt hai động cơ vẫn thực hiện được nhưng chỉ là trên lý thuyết. Một chuỗi những việc gần như thần kỳ chắc chắn sắp xảy ra. Trước tiên, họ phải rút hết nhiên liệu và tắt hẳn động cơ cuối cùng trước khi tách khỏi thùng nhiên liệu khổng lồ bên ngoài. Sau đó, Kittredge sẽ điều khiển cho con tàu bay vòng vòng trong tư thế hướng đầu lên trên. Anh chỉ có một cơ hội, một cơ hội duy nhất để hướng dẫn họ hạ cánh an toàn tại bang Kennedy. Chỉ cần một lỗi nhỏ sẽ khiến tàu Endeavour đâm sầm xuống biển.
Giờ cuộc sống của họ hoàn toàn phụ thuộc vào thuyền trưởng Kittredge.
Anh vẫn liên lạc liên tục với Ban chỉ huy đặc vụ với một giọng nói đều đều, thậm chí còn có chút gì đó buồn chán khi họ tiến đến mức chỉ còn hai phút. Đây là điểm khó khăn tiếp theo. Màn hình bằng ống tia ca-tốt nhấp nháy tín hiệu thông báo nhiêu liệu nhỏ hơn năm mươi. Các động cơ đẩy tên lửa đã cháy hết theo dự kiến.
Emma lập tức nhận ra tín hiệu thông báo khi các động cơ đẩy tên lửa đang đốt cháy số nhiên liệu cuối cùng. Sau đó, một luồng sáng mạnh ở ô cửa khiến cô nheo mắt khi các động cơ đẩy tên lửa đã cháy hết.
Tiếng gầm của bệ phóng tên lửa đột nhiên im lặng kỳ quái, các cú rung mạnh biến thành một chuyến đi êm ái và gần như không có tiếng động. Cô bình tĩnh lại ngay lập tức và nhận thấy mạch cô đang đập nhanh hơn và tim cô đập như thể ai đó đang đấm vào lồng ngực.
– Trung tâm, đây là tàu Endeavour. – Kittredge nói bình tĩnh một cách đáng ngạc nhiên. – Chúng tôi có động cơ đẩy tên lửa.
– Rõ, chúng tôi hiểu.
– Bắt đầu hủy. – Kittredge ấn nút Hủy, thanh xoay đã dừng lại ở vị trí hủy việc trở lại bệ phóng.
Qua máy điện đàm, Emma nghe thấy Jill Hewitt nói lớn.
– Emma, đọc các mục cần thực hiện đi!
– Tôi hiểu rồi! – Emma bắt đầu đọc to. Giọng cô bình tĩnh đáng ngạc nhiên như giọng nói của Kittredge và Hewitt. Nếu ai đó nghe được cuộc đối thoại của họ thì cũng không thể đoán được là họ đang đối mặt với thảm họa. Họ đã kiểm soát được hệ thống máy móc, cơn hoảng loạn của họ đã được trấn áp, mọi hành động của họ được điều khiển bởi trí nhớ và sự rèn luyện đã thành kỹ năng kỹ xảo. Các máy tính trên tàu sẽ tự động sắp đặt chuyến bay trở về của họ. Họ vẫn đang tiếp tục giảm tốc độ. Khi bay lên độ cao một trăm hai mươi hai nghìn, họ bắt đầu xả nhiên liệu.
Giờ cô bắt đầu cảm thấy độ quay chóng mặt của tàu vũ trụ khi nó bắt đầu cuộc diễn tập lượn vòng tròn, phần đuôi lượn tròn của nó hiện ra ngay trước mặt cô. Đường chân trời bị lộn ngược đột nhiên lộn lại khi họ quay trở lại Kennedy cách đó gần bốn trăm dặm.
– Tàu Endeavour, Trung tâm đây. Hãy tắt động cơ chính.
– Rõ. – Kittredge trả lời. – Động cơ chính đã được tắt.
Trên bàn dụng cụ, ba máy cho biết tình trạng động cơ đột nhiên lóe sáng. Anh đã tắt động cơ chính và trong hai mươi giây, thùng nhiên liệu bên ngoài sẽ tách ra và rơi xuống biển.
Độ cao giảm nhanh, Emma nghĩ. Nhưng chúng ta đang về nhà.
Cô khởi động. Có tiếng báo động và các ô đèn mới nhấp nháy trên bảng điều khiển.
– Trung tâm, chúng tôi đã mất liên lạc với máy tính số ba. – Hewitt hét lên. – Chúng tôi đã mất véc tơ định vị tàu! Nhắc lại, chúng tôi đã mất…
– Đó có thể là một sai sót trong việc đo quán tính. – Andy Mercer, một chuyên gia đặc nhiệm khác ngồi cạnh Emma nói. – Hãy cắt đứt nó.
– Không! Đó có thể là do sự cố đứt đường truyền! – Emma xen vào. – Tôi nói là chúng tôi cần hỗ trợ.
– Đồng ý. – Kittredge nói.
– Chuẩn bị hỗ trợ. – Hewitt nói và chuyển sang máy tính số năm.
Bảng điều khiển lại xuất hiện. Mọi người thở phào nhẹ nhõm.
Thùng nhiên liệu nổ gây ra một tiếng động lớn báo hiệu thùng nhiên liệu rỗng đã được tách ra. Họ không thể nhìn thấy nó rơi xuống biển sâu nhưng họ biết một giai đoạn khó khăn khác đã qua đi.
Giờ con tàu đang bay tự do như một con chim khổng lồ và vụng về lao về tổ.
Hewitt gầm lên.
– Chết tiệt! Chúng ta đã mất một bộ phận năng lượng chính.
Emma ngước lên khi có một âm thanh rì rì. Bộ phận năng lượng chính đã tách ra. Rồi sau đó có tiếng báo động khác và cô hoảng hốt quay sang bảng điều khiển. Hàng loạt các đèn báo động màu hổ phách đang nhấp nháy. Tất cả các dữ liệu đã biến mất trên các màn hình và thay vào đó là các đường kẻ sọc đen và trắng. Lỗi máy tính nặng. Họ đang bay mà không có các dữ liệu hướng dẫn lái tàu hay điều khiển các cánh tàu.
– Andy và tôi đang gặp rắc rối với bộ phận năng lượng trung tâm. – Emma hét lên.
– Tái thiết hỗ trợ!
Hewitt ấn thanh gạt và chửi rủa.
– Tôi chẳng vui vẻ gì hết, các vị ạ. Không có chuyện gì xảy ra cả.
– Làm lại đi!
– Vẫn không tái thiết được.
– Con tàu đang nghiêng. – Emma hét lên và cô thấy nội tạng mình lộn hết bên này sang bên khác.
Kittredge vật lộn với vô lăng nhưng họ đã quá nghiêng sang phải. Đường chân trời bỗng thẳng đứng và xoay ngược. Bụng Emma lại cồn lên khi họ lộn ngược. Cú xoay tiếp theo diễn ra nhanh hơn, đường chân trời cứ xoay liên tục trong một vòng xoay diễn ra chóng mặt hết bầu trời lại đến đại dương.
Đó là một vòng xoay chết chóc.
Cô nghe thấy Hewitt cố nén tiếng gầm gừ.
– Tôi không kiểm soát được nó.
Vòng xoay chết chóc ngày càng nhanh và biến thành một cú dừng đột ngột đáng kinh ngạc.
Tất cả rơi vào im lặng.
Một giọng nói đùa cợt vang lên trên máy bộ đàm.
– Xin lỗi các bạn. Lần này các bạn đã thất bại.
Emma giật tai nghe ra.
– Thật bất công, bà Hazel!
Jill Hewitt cũng hùa vào phản đối.
– Này, bà định giết chúng tôi à. Làm sao cứu vãn được tình thế?
Emma là người đầu tiên ra khỏi máy mô phỏng chuyến bay trên tàu con thoi. Những người khác đứng ngay cạnh cô, cô đi thẳng vào phòng điều khiển không có cửa sổ. Ở đó ba nhân viên đang ngồi trước bảng điều khiển.
Đội trưởng Hazel Barra cười bí hiểm và xoay ghế lại nhìn bốn phi hành gia đang tức giận của viên chỉ huy Kittredge. Trông Hazel như một bà chúa đất phốp pháp với mớ tóc uốn thành búp màu nâu nổi bật nhưng kỳ thực bà là một tay chơi tàn nhẫn. Bà điều khiển cho phi hành đoàn vượt qua những khó khăn trong các cuộc thử nghiệm và có vẻ như bà ta cho rằng mỗi khi phi hành đoàn không sống sót được thì đó là một thành công lớn. Hazel biết rõ rằng mỗi lần phóng tên lửa có thể biến thành thảm họa. Bà muốn các phi hành gia được trang bị các kỹ năng để tồn tại. Việc mất đi một người trong đội là một cơn ác mộng mà bà không mong đợi.
– Vụ vừa rồi là gian lận, bà Hazel. – Kittredge phàn nàn.
– Các bạn vẫn sống sót. Chúng tôi đã hạ gục hoàn toàn tính tự mãn của các bạn.
– Thôi đi. – Andy nói. – Hai động cơ không hoạt động khi tàu được phóng lên. Đường truyền dữ liệu bị đứt à? Rồi bà còn khiến máy tính số năm bị hỏng phải không? Có bao nhiêu rắc rối như thế? Như vậy không thực tế chút nào.
Patrick, một người trong ban chỉ huy quay lại cười lớn.
– Các bạn thậm chí đã không để ý tới những việc khác chúng tôi làm.
– Còn gì nữa?
– Tôi đã cho một máy làm nhiễu máy cảm ứng ô-xi. Chẳng ai phát hiện ra sự thay đổi trên máy đo áp lực đúng không?
Kittredge cười.
– Chúng tôi lấy đâu ra thời gian? Chúng tôi còn phải vật lộn với hàng mớ sự cố khác.
Hazel giơ cánh tay to béo lên yêu cầu giảng hòa.
– Thôi, được rồi các bạn. Có lẽ chúng tôi làm hơi quá. Nói thật là chúng tôi cũng ngạc nhiên khi các bạn làm được nhiều như vậy trong tình huống hủy việc quay trở lại bệ phóng. Chúng tôi muốn ném vào đó một cái cờ lê để thêm phần thú vị thôi.
– Bà ném cả đống hộp dụng cụ thì có. – Hewitt khịt mũi.
– Sự thật là. – Patrick nói. – Các bạn có phần chủ quan.
– Đó phải là từ tự tin mới đúng. – Emma nói.
– Điều đó rất tốt. – Bà Hazel thú nhận. – Rất tốt nếu các bạn tự tin. Các bạn đã thể hiện tinh thần đồng đội trong buổi diễn tập phối hợp tuần trước. Ngay cả ông Gordon Obie cũng nói ông ta rất ấn tượng.
– Con nhân sư đã nói vậy sao? – Kittredge nhướn lông mày tỏ vẻ ngạc nhiên. Gordon Obie là giám đốc Ban điều hành Phi hành đoàn. Đó là một người đàn ông trầm lặng và xa cách một cách thái quá đến mức không ai ở Trung tâm vũ trụ Johnson thực sự biết ông là ai. Ông thường ngồi tham dự cuộc họp ban giám đốc từ đầu đến cuối mà không nói lời nào, nhưng không ai nghi ngờ về việc ông đang ghi nhớ lại từng chi tiết. Trong số các phi hành gia, Obie được người ta kính sợ chứ không hẳn là sự sợ hãi. Lời phán quyết cuối cùng của ông cho bài thực hành bay cuối cùng có thể khiến người ta thăng tiến hay đổ vỡ toàn bộ sự nghiệp. Vì vậy việc ông có lời khen ngợi cho đội của Kittredge thực sự là một tin vui.
Nhưng ngay sau đó bà Hazel đánh đổ bục vinh quang của họ.
– Tuy nhiên, – bà nói. – Obie cũng lo lắng rằng các bạn quá chủ quan trong việc này. Các bạn vẫn coi đây là một trò chơi.
– Ông Obie muốn gì ở chúng tôi? – Hewitt nói. – Chúng tôi phải luôn tâm niệm là có hơn mười nghìn cách để chúng tôi đâm sầm vào đâu đó và phát nổ à?
– Thảm họa không mang tính lý thuyết đâu.
Câu nói của bà Hazel trầm tĩnh đến mức mọi người im lặng một lúc. Từ sau vụ tàu Challenger, mọi thành viên phi hành gia nhận thức rõ rằng việc một thảm họa khác xảy ra chỉ là vấn đề thời gian. Những người ngồi trên đầu tên lửa là những vật thể đầu tiên sẽ nổ tung với sức nổ năm triệu pao nên họ không thể lạc quan khi nghĩ về những thảm họa trong công việc của họ. Tuy vậy, không mấy khi họ nói về cái chết trong vũ trụ. Nhắc đến nó tức là thừa nhận nó và công nhận rằng tàu vũ trụ Challenger tiếp theo có thể có một thành viên phi hành đoàn trong bảng phân công.
Hazel nhận thấy là bà đã phá hỏng sự hưng phấn của họ. Không hay chút nào khi kết thúc chuyện này theo cách đó và giờ bà đã quay lại với những lời chỉ trích trước đây.
– Tôi nhắc đến chuyện này chỉ vì các bạn đã thực hiện rất tốt. Tôi đã phải làm việc rất chăm chỉ để các bạn được bay lên. Còn ba tháng nữa là các bạn cất cánh và các bạn đều đang sung sức nhưng tôi mong các bạn còn sung sức hơn nữa.
– Nói theo cách khác, các anh bạn. – Patrick ngồi sau bảng điều khiển nói. – Đừng có tự phụ như thế!
Bob Kittredge gục đầu một cách chế nhạo.
– Giờ thì chúng ta về thôi, mặc áo đi.
– Quá tự tin là rất nguy hiểm. – Hazel nói. Bà rời ghế và đứng lên đối diện với Kittredge. Đã từng là cựu quân nhân trong ba chuyến bay trên tàu con thoi, Kittredge cao hơn nửa cái đầu và anh có vẻ tự tin của một phi công hải quân mà anh đã từng đảm nhiệm. Hazel không bị Kittredge hay bất cứ phi hành gia nào của mình lấn át. Dù là các nhà khoa học về tên lửa hay các anh hùng trong lĩnh vực quân sự thì họ vẫn khiến chia sẻ với bà cùng một mối quan tâm: đó là mong ước họ sẽ sống sót trở về sau nhiệm vụ.
Bà nói.
– Anh là một chỉ huy tài ba, Bob ạ, nhưng anh đã khiến cả phi hành đoàn của anh ảo tưởng khi coi chuyện đó dễ dàng.
– Không, chính họ khiến nó trở nên dễ dàng vì họ quágiỏi giang.
– Để rồi xem! Hãy chờ cuộc thử nghiệm phối hợp vào thứ ba với Hawley và Higuchi. Chúng ta sẽ phát hiện ra nhiều điều.
Kittredge cười ngoác miệng.
– Được, cố mà giết chúng tôi nhé nhưng phải chơi đẹp đấy.
– Số phận chẳng mấy khi chơi đẹp. – Bà Hazel nói nghiêm trang. – Đừng mong tôi làm vậy.
Emma và Bob Kittredge ngồi trong quán ở phòng khách lớn Bay Ban Đêm, nhấm nháp bia và phân tích các cuộc tập dượt của ngày hôm đó. Đây là thói quen của họ mười một tháng trước trong giai đoạn đầu thành lập đội, khi đó bốn người bọn họ lần đầu tiên tạo thành một phi hành đoàn của tàu con thoi 162. Tối thứ sáu nào họ cũng gặp nhau tại quán Bay Ban Đêm nằm ngay trên đường NASA số 1 từ Trung tâm vũ trụ Johnson và xem xét lại tiến triển tập luyện của họ. Họ đã làm được những gì và còn những gì cần sửa chữa. Kittredge, người đã tự mình chọn các thành viên phi hành đoàn đã lập ra thói quen này. Dù họ đã làm việc cùng nhau hơn sáu mươi tiếng mỗi tuần nhưng Kittredge không bao giờ mong muốn về nhà. Emma đã nghĩ đó là do gần đây Kittredge mới ly dị và anh sợ sống một mình, sợ quay trở về ngôi nhà trống không. Nhưng khi dần hiểu anh hơn, cô nhận ra rằng các cuộc họp này chỉ là một cách kéo dài sự hưng phấn trong công việc của anh. Kittredge sống để bay. Anh đọc các sách hướng dẫn tàu vũ trụ dài dằng dặc và khô khan chỉ để giải trí. Tất cả thời gian rảnh rỗi anh đều ở lại các trung tâm điều khiển của một trong các thành viên của đội T-38s tại trung tâm NASA. Gần như anh rất khó chịu khi trọng lực chôn chặt chân anh dưới đất.
Anh không hiểu nổi tại sao những người còn lại trong phi hành đoàn của mình muốn về nhà vào cuối ngày. Hôm nay anh có vẻ ủ dột khi chỉ có hai người ngồi tại chiếc bàn quen thuộc của họ tại quán Bay Ban Đêm. Jill Hewitt đã đến buổi biểu diễn của cháu trai, còn Andy Mercer đã về nhà kỷ niệm mười năm đám cưới của mình. Chỉ có Emma và Kittredge xuất hiện đúng giờ hẹn. Giờ họ đã bàn bạc qua về các cuộc diễn tập của tuần này. Họ im lặng rất lâu. Cuộc nói chuyện đã cạn và hết hứng thú.
– Tôi sẽ đưa một trong các thành viên đội T-38s đến khu Cát Trắng ngày mai. – Anh nói. – Cô muốn đi cùng tôi không?
– Không được rồi. Tôi sẽ có cuộc hẹn với luật sư.
– Vậy là cô và Jack rất cứng đầu về chuyện đó?
Cô thở dài.
– Động cơ thì đã có. Jack đã có luật sư riêng và tôi cũng vậy. Vụ ly dị này đã biến thành một con tàu đi không trở lại.
– Có vẻ như cô đang cân nhắc?
Cô chậm rãi đặt cốc bia xuống.
– Tôi không cân nhắc gì cả.
– Vậy thì sao cô vẫn đeo nhẫn anh ấy tặng?
Cô nhìn chiếc nhẫn cưới bằng vàng. Đột nhiên cô cố hết sức tháo nó ra nhưng nó không nhúc nhích. Sau bảy năm ở trên ngón tay cô, chiếc nhẫn có vẻ như đã đóng khuôn trên da thịt cô và không chịu rời ra. Cô nguyền rủa nó và cố rút ra lần nữa. Lần này cô lôi mạnh quá đến mức nó cào xước da và trượt khỏi đốt tay. Cô đặt nó xuống bàn.
– Đấy, một phụ nữ tự do.
Kittredge cười.
– Hai người đã kéo dài cuộc hôn nhân lâu hơn đám cưới của tôi. Vậy hai người còn níu kéo gì vậy?
Cô lùi về sau ghế và bỗng chùng xuống.
– Mọi chuyện. Tôi thừa nhận điều đó. Tôi cũng vô lý. Mấy tuần trước, chúng tôi đã ngồi cùng nhau và liệt kê tất cả tài sản của chúng tôi. Tôi muốn gì và anh ấy muốn gì. Chúng tôi tự hứa với nhau là sẽ rất công bằng trong việc đó. Hai người lớn bình tĩnh và chín chắn. Nhưng khi chúng tôi làm dở danh sách thì nó đã biến thành một cuộc chiến. Không có tù nhân nào cả. – cô thở dài. Thực sự cô và Jack luôn như vậy, ương bướng và đam mê như nhau. Dù họ yêu nhau hay tranh cãi thì giữa họ lúc nào cũng như có lửa.
– Chúng tôi chỉ nhất trí một việc. – cô nói. – Tôi sẽ giữ con mèo.
– Cô thật may mắn.
Cô nhìn anh.
– Anh đã bao giờ hối tiếc chưa?
– Ý cô là về cuộc hôn nhân của tôi à? Chưa bao giờ. – dù câu trả lời của anh ta không mập mờ nhưng anh cúi xuống như thể anh đang cố trốn tránh một sự thật mà cả hai đều biết: anh vẫn đang than khóc cho sự tan vỡ của cuộc hôn nhân của mình. Ngay cả người đàn ông không sợ khi ngồi trong đống nhiên liệu có sức nổ hàng triệu tấn cũng không chịu nổi tình trạng cô đơn bình thường.
– Đó chính là vấn đề, cô thấy đấy. Rốt cuộc tôi đã tìm ra nó. – Anh nói. – Những người bình thường khác không hiểu chúng ta vì họ không có chung mơ ước. Chỉ có những vị thánh và những kẻ tử vì đạo mới kết hôn với các phi hành gia. Hoặc đó là những kẻ chẳng thèm quan tâm xem chúng ta còn sống hay đã chết. – Anh cười cay đắng. – Bonnie, cô ấy không phải là kẻ tử vì đạo. Và chắc chắn cô ấy không hiểu được mơ ước của tôi.
Emma nhìn chiếc nhẫn cưới của mình lấp lánh trên bàn.
– Jack hiểu ước mơ đó. – cô nói khẽ. – Đó cũng là ước mơ của anh ấy. Điều đó đã hủy hoại cuộc hôn nhân của hai chúng tôi, anh biết không? Tôi bay được còn anh ấy thì không. Và anh ấy là người bị bỏ lại phía sau.
– Vậy thì anh ta cần lớn khôn và đối diện với sự thật. Không phải ai cũng đạt được những điều họ muốn.
– Tôi không muốn anh nhắc đến anh ấy với thái độ phản đối như vậy.
– Mà chính anh ta xin thôi việc đó chứ.
– Anh ấy còn có thể làm gì khác? Anh biết là anh ấy sẽ không được giao nhiệm vụ bay nữa. Nếu người ta không cho anh bay thì chẳng có lý do gì để ở lại NASA.
– Người ta cho anh ta ở dưới đất là tốt cho anh ta.
– Đó chỉ là phỏng đoán về mặt y khoa. Bị một viên sỏi thận không có nghĩa là sẽ có một viên khác.
– Thôi được, bác sĩ Watson. Cô là một bác sĩ. Hãy cho tôi biết: cô có muốn Jack nằm trong phi hành đoàn của cô không nếu cô đã biết tình trạng sức khỏe của anh ta?
Cô dừng lại.
– Có. Với tư cách là một bác sĩ, tôi sẽ nói là có. Rất có khả năng là Jack sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ trong không gian. Anh ấy có thể làm được rất nhiều việc và tôi không thể hiểu nổi tại sao họ lại không muốn anh ấy được bay lên đó. Có lẽ tôi sẽ ly dị với anh ấy nhưng tôi rất tôn trọng anh ấy.
Kittredge cười rồi uống cạn cốc bia.
– Thật sự cô không khách quan trong việc này đúng không?
Cô định bắt đầu bảo vệ luận điểm của mình nhưng cô nhận thấy mình không có căn cứ nào. Kittredge nói đúng. Bất cứ chuyện gì liên quan đến Jack McCallum là cô không còn giữ thái độ khách quan nữa.
Ngoài trời, dưới cái nóng ẩm của một đêm hè ở Houston, cô dừng lại cạnh bãi đỗ xe của quán Bay Ban Đêm và ngước nhìn bầu trời. Các ánh đèn thành phố sáng rực đã làm mờ hết các ngôi sao nhưng cô vẫn nhận ra các chòm sao quen thuộc. Chòm sao Thiên Hậu, chòm sao Tiên Nữ và chòm sao Thất Nữ. Mỗi khi nhìn chúng, cô lại nhớ những gì Jack đã nói với cô khi họ nằm bên nhau trên bãi cỏ ngắm sao vào một đêm hè. Đó là đêm mà cô lần đầu tiên nhận ra rằng cô yêu anh. Thiên đường có rất nhiều phụ nữ, Emma ạ. Và em cũng nằm trong số đó.
Cô nói khẽ.
– Anh cũng vậy, Jack ạ.
Cô mở cửa xe và ngồi vào ghế lái. Cô lục túi áo tìm nhẫn cưới. Khi nhìn nó dưới ánh sáng lờ mờ trong chiếc xe, cô nghĩ về bảy năm của cuộc hôn nhân được tượng trưng bởi chiếc nhẫn. Giờ tất cả đã gần như qua hết.
Cô bỏ chiếc nhẫn vào túi. Cô thấy bàn tay trái của mình trống trơn. Mình phải quen với việc này, cô nghĩ và khởi động xe.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.