Ỷ THIÊN ĐỒ LONG KÝ

02. Võ Đương sơn đính tùng bách trường



Nắng mưa đã có cổ tùng,
Suối nguồn róc rách bạn cùng kỳ nhân.
Khai tông lập phái một thân,
Võ Đương so với Thiếu Lâm kém gì
Hai người chậm rãi lên núi, thẳng đến tận cửa chùa, vẫn không thấy một bóng
người. Hà Túc Đạo nói: -Thôi tôi cũng không vào làm gì, chỉ mời hòa thượng
đó ra đây nhắc lại câu nói đó cũng đủ.
Y cao giọng: -Hà Túc Đạo ở núi Côn Lôn đến thăm chùa Thiếu Lâm, có một lời
phụng cáo.
Câu nói đó vừa dứt, chỉ thấy trong chùa hơn một chục chiếc đại hồng chung
cùng rền vang một lượt, tiếng kêu boong boong, vang động khắp cả dãy núi.
Đột nhiên cửa chùa mở rộng, hai bên hai hàng tăng nhân mặc áo màu tro
cùng tiến ra, bên trái năm mươi bốn người, bên phải năm mươi bốn người, cả
thảy một trăm lẻ tám người, đó là đệ tử của La Hán Đường, phù hợp với số
một trăm linh tám la hán. Đằng sau là mười tám tăng nhân, trên áo bào màu
tro có phủ thêm cà sa màu vàng nhạt, tuổi tác so với đệ tử La Hán Đường có
phần hơn, đó là đệ tử của Đạt Ma Đường, ở trên La Hán Đường một bậc. Đi
sau một quãng là bảy nhà sư già mặc cách tử tăng bào[1]. Những nhà sư đó
mặt mũi nhăn nheo, niên kỷ ít ra cũng phải hơn bảy mươi, già có thể đến
ngoài chín mươi, đó là Tâm Thiền Đường thất lão. Kế tiếp nữa là Thiên Minh
phương trượng chầm chậm bước tới, bên trái là thủ tọa Đạt Ma Đường Vô
Tướng thiền sư, bên phải là thủ tọa La Hán Đường Vô Sắc thiền sư. Phan
Thiên Canh, Phương Thiên Lao, Vệ Thiên Vọng ba người đi ở đằng sau. Cuối
cùng là khoảng bảy, tám mươi tục gia đệ tử của phái Thiếu Lâm.
Hôm Hà Túc Đạo lẻn vào La Hán Đường, để lại tờ thiếp trên tay pho tượng
Hàng Long La Hán, võ công như thế khiến cho phương trượng cùng Vô Sắc,
Vô Tướng đều thật kinh sợ. Mấy hôm sau, anh em Phan Thiên Canh từ Tây
Vực đến, nói chuyện ước hẹn tỉ võ, các cao tăng trong chùa càng thêm lưu
tâm. Chi phái Thiếu Lâm Tây Vực vì đường sá xa xôi, mấy chục năm qua ít tin
tức qua lại với phái Thiếu Lâm trung châu, nhưng tăng chúng trong chùa đều
biết rằng, vị sư thúc tổ Khổ Tuệ thiền sư đi qua Tây Vực khai phái năm đó võ
công kinh người, truyền xuống đồ tử đồ tôn danh tiếng cũng rất ư vang động.
Thấy bọn Phan Thiên Canh nói về Côn Lôn Tam Thánh không dám khinh
thường chút nào, ai nấy đều nghĩ rằng nếu như tốt lành chắc đã không đến,
đã đến chắc cũng không phải hiền lành gì, nên trong chùa càng thêm gia tâm
phòng phạm. Phương trượng lại truyền pháp chỉ xuống, tất cả đệ tử tăng tục
trong vòng năm trăm dặm chung quanh, phải trở về chùa nghe điều động.
Lúc đầu chúng tăng cũng tưởng Côn Lôn Tam Thánh gồm có ba người, sau
mới biết chỉ có một người, còn như dung mạo, tuổi tác, bọn Phan Thiên Canh
cũng không rõ, chỉ? biết y tự phụ cầm, kỳ, kiếm tam tuyệt mà thôi. Đánh đàn
và đấu cờ khiến cho tâm hồn tranh đua, lại nuôi dưỡng tính nhàn nhã, vốn là
điều đại kỵ của Thiền tông, tăng chúng trong chùa Thiếu Lâm trước nay không
ngó tới, nhưng những cao thủ trong chùa tinh thông kiếm thuật đều gia công
rèn luyện, để cùng kẻ điên cuồng xưng mình “kiếm thánh” kia một phen cao
thấp.
Anh em bọn Phan Thiên Canh nghĩ rằng vì mình mới xảy ra cớ sự, vì thế ngày
ngày cưỡi tuấn mã, đi tuần đằng trước đằng sau núi, định bụng sẽ ngăn chặn
kẻ dám xưng mình là “cầm kỳ kiếm tam thánh? kia, đánh cho y không vào
được đến cửa chùa, rồi sau sẽ trở lại cùng các hòa thượng trong chùa so tài,
để cho từ nay ai ai cũng biết Tây Vực Thiếu Lâm giỏi hơn Trung Nguyên Thiếu
Lâm. Nào ngờ ở tại thạch đình, Hà Túc Đạo chỉ mới đưa ra một nửa sức lực,
đã cho ba anh em thua xiểng liểng.
Thiên Minh thiền sư vừa nghe tin, biết rằng chùa Thiếu Lâm vinh nhục thịnh
suy cũng chỉ ở một lúc này, nhưng xét ra võ công của chính mình và Vô Sắc,
Vô Tướng ba người vị tất đã hơn được anh em Phan Thiên Canh bao nhiêu,
cho nên đành phải mời Tâm Thiền Đường thất lão ra áp trận. Có điều Tâm
Thiền thất lão võ công cao thấp mức nào không ai biết được, nhưng trong lúc
khẩn cấp có thể ra tay chế ngự được Côn Lôn Tam Thánh chăng, điều đó trong
lòng phương trượng và Vô Sắc, Vô Tướng cũng chỉ cầu may thôi.
Lão phương trượng Thiên Minh thiền sư vừa thấy Hà Túc Đạo và Quách
Tương? liền chắp tay chào và nói: -Vị này chắc là người được gọi là Côn Lôn
Tam Thánh Hà cư sĩ phải không? Lão tăng không kịp ra xa nghênh đón, xin thứ
tội.
Hà Túc Đạo cúi mình hành lễ, nói: -Vãn sinh Hà Túc Đạo, ba chữ Tam Thánh
cuồng danh, nào dám nói đến! Đến đây làm rộn bảo sát, thật lòng không an,
nhọc lòng chúng vị cao tăng ra khỏi chùa nghênh đón, quả thực không dám.
Thiên Minh nghĩ thầm “Gã cuồng sinh này nói năng chẳng thấy cuồng chút
nào. Xem y chỉ độ trên dưới ba mươi, sao có thể vừa ra tay đã đánh bại ba anh
em Phan Thiên Canh được?” liền nói: -Hà cư sĩ không phải khách khí, xin mời
vào chùa dùng trà. Còn vị nữ cư sĩ thì?
Lời nói có chút ngập ngừng tỏ ra khó xử.
Hà Túc Đạo nghe giọng ông có ý cự tuyệt không cho Quách Tương vào chùa,
tính ngông cuồng bỗng phát tác, ngửng mặt lên cười lớn, nói: -Lão phương
trượng, vãn sinh đến bảo sát này, vốn là do người khác ủy thác, cốt để nhắn
lại một câu thôi. Câu đó nói xong rồi, sẽ phủi tay đi khỏi. Thế nhưng nhà chùa
trọng nam khinh nữ, sao thanh qui giới luật ở đâu mà lắm thế, điểm đó vãn
sinh xem ra không được vừa mắt. Nên biết Phật pháp vô biên, chúng sinh như
nhất, nếu như vọng phân nam nữ chẳng phải tâm còn có chỗ vướng mắc hay
sao?
Thiên Minh phương trượng là bậc cao tăng hữu đạo, thiền tâm trong sáng, có
lòng bao dung rộng rãi, nghe thấy Hà Túc Đạo nói như vậy, mỉm cười: -Đa ta
cư sĩ chỉ điểm. Chùa Thiếu Lâm chúng tôi cưỡng phân nam nữ, quả thực có
điều nhỏ nhen. Như thế thì xin Quách cô nương cùng vào uống trà luôn thể.
Quách Tương nhìn Hà Túc Đạo mỉm cười, thầm nghĩ “Miệng anh chàng này
khéo thật, chỉ một lời đã thuyết phục được lão hòa thượng?. Thấy Thiên Minh
phương trượng đứng tránh qua một bên, đưa tay mời khách, nàng đang toan
cất bước tiến vào chùa, bỗng từ bên trái của Thiên Minh bước ra một lão tăng
khô gầy, nói: -Chỉ vì một lời của Hà cư sĩ, khiến cho chùa Thiếu Lâm chúng ta
phải bỏ đi một lề luật đã có hàng ngàn năm, tuy không phải là không thể
được, nhưng cũng phải xem người nói ra thực có bản sự, hay chỉ được cái hư
danh. Xin Hà cư sĩ lưu lại một ngón nghề để chúng tăng chùa này mở mắt, tất
cả tâm phục, biết được do ai mà phải bỏ đi thiên niên qui củ.
Người đó chính là thủ tọa Đạt Ma Viện Vô Tướng thiền sư. Tiếng nói của ông
oang oang, chứng tỏ trung khí sung túc, nội lực thâm hậu.
Bọn Phan Thiên Canh nghe câu này, mặt hơi biến sắc. Lời nói của Vô Tướng
hiển nhiêm hàm ý coi ba người không vào đâu, Hà Túc Đạo tuy đánh bại họ,
nhưng thực sự chưa chắc đã có bản lãnh. Quách Tương thấy Vô Sắc thiền sư
có vẻ lo âu, nghĩ thầm lão hòa thượng này đối với người thật tốt bụng, lại là
bạn của đại ca ca, nếu Hà Túc Đạo vì mình mà tranh chấp với tăng chúng
Thiếu Lâm, dù bên nào thua, lòng cũng áy náy, nên cao giọng nói: -Hà đại ca,?
chùa Thiếu Lâm không phải là không vào không xong. Ông chuyển lại câu nói
đó đi, rồi chúng ta đi.
Chỉ vào Vô Sắc, nàng tiếp: -Vị Vô Sắc thiền sư này là hảo bằng hữu của tôi,
các vị hai bên đừng để làm tổn thương hòa khí.
Hà Túc Đạo sững người, nói: -A, hóa ra là thế.
Quay lại nói với Thiên Minh: -Lão phương trượng, chẳng hay quí tự có một
người tên là Giác Viễn thiền sư chăng? Có người ủy thác tại hạ, chuyển một
câu nói đến cho vị đó.
Thiên Minh nhỏ giọng hỏi lại: -Giác Viễn thiền sư?
Giác Viễn ở trong chùa địa vị rất thấp, mấy chục năm ẩn thân nơi Tàng Kinh
Các, không ai nghe đến, trước nay chưa ai kèm thêm vào pháp danh của ông
ta hai chữ?thiền sư? bao giờ, cho nên nhất thời Thiên Minh không nghĩ ra.
Ông ngẫm nghĩ giây lát, mới hỏi: -A, có phải là người làm mất bộ Lăng Già kinh
nên mất chức giữ Tàng Kinh Các. Hà cư sĩ tìm y, phải chăng việc có quan hệ
đến bộ kinh Lăng Già?
Hà Túc Đạo lắc đầu: -Tôi? cũng không biết nữa.
Thiên Minh nói với một tên đệ tử: -Ngươi truyền cho Giác Viễn đến đây gặp
khách.
Người đệ tử đó lãnh mệnh hấp tấp đi ngay. Vô Tướng thiền sư lại nói: -Hà cư
sĩ hiệu xưng cầm kiếm kỳ tam thánh, chữ thánh đó người thường chẳng ai
dám màng. Ắt là cả ba món Hà cư sĩ đều có tài nghệ quán tuyệt thiên hạ. Hôm
trước để thư cho tệ tự, nói là muốn phô bày võ công, hôm nay quang giáng,
không lẽ không tứ giáo cho toàn thể chúng tôi được xem tuyệt kỹ.
Hà Túc Đạo lắc đầu: -Vị cô nương này đã nói rồi, hai bên không nên làm tổn
thương hòa khí.
Vô Tướng bừng bừng nổi giận, nghĩ thầm “Ngươi để thư gây sự trước, nay
việc đến thì lại từ chối, hàng nghìn năm nay, có ai dám vô lễ với chùa Thiếu
Lâm như thế bao giờ đâu? Huống chi bọn Phan Thiên Canh đã bị bại dưới tay
ngươi, trên giang hồ sẽ truyền ra là đại đệ tử của phái Thiếu Lâm bị thua thì
hai chữ kiếm thánh kia càng thêm vang dội? Xem ra trong đám đệ tử không ai
có thể là đối thủ của ngươi, đành phải chính mình xuất mã thì mới ổn.? Nghĩ
thế ông bước lên hai bước, nói: -Tỉ thí võ nghệ, chưa hẳn đã tổn thương hòa
khí, Hà cư sĩ không nên chối từ.
Rồi quay đầu lại nói với đám đệ tử Đạt Ma Đường: -Mang kiếm ra. Chúng ta
xin lãnh giáo kiếm thuật của “kiếm thánh”, để xem chữ “thánh” đó tới bực nào.
Binh khí trong chùa đã chuẩn bị sẵn có điều chư tăng dàn ra nghênh đón
khách không tiện mang theo để khỏi mang vẻ nhỏ nhen. Các đệ tử nghe Vô
Tướng dặn dò, quay mình trở về chùa, mang ra bảy tám thanh trường kiếm,
hay tay bưng đến trước mặt Hà Túc Đạo, nói: -Hà cư sĩ dùng bảo kiếm chính
mình mang theo? Hay mượn binh nhận tầm thường của tệ tự để sử dụng?
Hà Túc Đạo không trả lời, cúi xuống nhặt một viên đá sắc cạnh, đột nhiên
vạch ngang, vạch dọc trên nền đá tại trước sân chùa. Chỉ trong khoảnh khắc,
y đã vạch ngang dọc mỗi chiều mười chín đường thành một bàn cờ lớn.
Đường kinh đường vĩ đều thẳng tắp, tưởng như dùng thước mà đo, mỗi nét
đều sâu ngập vào đá khoảng nửa tấc. Phiến đá đó vốn đẽo bằng đá xanh của
núi Thiếu Thất, cứng như thép, mấy trăm năm qua biết bao người lai vãng
cũng không mòn đi chút nào. Y thuận tay dùng một cục đá vẽ lên mà vào sâu
cả tấc, nội công như thế trên đời ít thấy. Chỉ thấy y cười nói: -Tỉ kiếm e rằng
bá đạo, đánh đàn thì không có cách gì mà so tài. Nếu đại hòa thượng cảm
thấy cao hứng, chúng ta đánh với nhau một ván cờ xem sao?
Việc y dùng đá vạch thành bàn cờ quả là một tuyệt kỹ kinh người, Thiên Minh,
Vô Sắc, Vô Tướng và cả đến Tâm Thiền Đường thất lão ai cũng mặt mày ngơ
ngẩn, thầm sợ trong lòng. Thiên Minh phương trượng biết rằng nội lực hồn
hậu như thế trong chùa không ai bì kịp, tâm địa ông quang phong tễ nguyệt,
đang định mở miệng chịu thua, bỗng nghe tiếng xích sắt loảng xoảng kéo lê
trên đất vọng tới.
Chỉ thấy Giác Viễn gánh đôi thùng sắt lớn đi tới trước mặt, theo sau là một
thiếu niên cao ráo. Giác Viễn tay trái vịn lấy mép thùng nước, tay phải đơn
chưởng chỉ lên trời hướng về Thiên Minh hành lễ, nói: -Theo lệnh lão phương
trượng cho gọi đến.
Thiên Minh nói: -Vị Hà cư sĩ này có lời muốn nói với ngươi.
Giác Viễn quay người nhìn lại, thấy Hà Túc Đạo nhưng không nhận ra là ai,
nói: -Tiểu tăng là Giác Viễn, cư sĩ có điều gì muốn sai bảo?
Hà Túc Đạo vạch xong bàn cờ, kỳ hứng bột phát, nói: -Chuyện đó để nói sau
cũng không muộn. Bây giờ đại hòa thượng nào cùng ta đánh cờ trước?
Thực ra y không cố ý hiển thị công phu, có điều trong đời đối với ba món cầm
kỳ kiếm ham quá hóa mê, mỗi khi hứng tới thì dù có trời sập cũng không coi
vào đâu, nên khi muốn đánh cờ chỉ mong có người đối cục, còn quên hết việc
tỉ thí võ công.
Thiên Minh thiền sư nói: -Hà cư sĩ vạch đá thành bàn cờ, thần công như thế,
lão nạp từ khi sinh ra chưa thấy bao giờ, tăng chúng trong tệ tự cam chịu hạ
phong.
Giác Viễn nghe Thiên Minh nói như vậy, nhìn xuống thấy bàn cờ lớn trên nền
đá xanh, biết rằng người này đến đây cốt để phô bày võ công, lập tức xốc lại
đôi thùng sắt, hít một hơi, đem hết công lực một đời tu luyện dồn xuống hai
đùi, theo những đường vạch của bàn cờ từng bước đi tới.
Chỉ thấy dây xích trên chân ông ta đi đến đâu thì trên phiến đá hiện ra một vết
lõm rộng chừng năm tấc, những đường vạch của Hà Túc Đạo bị xóa sạch.
Chúng tăng thấy thế không nhịn được đều lớn tiếng hoan hô. Thiên Minh, Vô
Sắc, Vô Tướng vừa lạ lùng vừa mừng rỡ, không ngờ vị lão tăng si si ngốc ngốc
này lại có nội công thâm hậu đến thế, tuy cùng sống dưới một mái chùa mấy
chục năm, mà mình không hề hay biết gì. Bọn Thiên Minh biết rằng nếu chỉ
trông vào nội lực của con người thì dù mạnh cách mấy cũng không thể nào
đạp lên đá xanh mà in dấu được. Cũng nhờ Giác Viễn gánh thêm đôi thùng sắt
đầy nước, tổng cộng phải đến hơn bốn trăm cân. Hơn bốn trăm cân đó từ vai
truyền xuống dưới xích sắt ở đôi bàn chân, đi tới chẳng khác gì một cái đục
lớn đục lên đá, cào sạch những đường vạch dọc ngang của Hà Túc Đạo. Nếu
Giác Viễn chỉ đi chân không, thì không cách nào có thể làm được. Tuy thế, mặc
dù có mượn lực thật, nhưng cũng là thần công ít có ở trên đời.
Hà Túc Đạo không đợi cho ông ta xóa hết ba mươi tám đường dọc ngang của
bàn cờ, kêu lên: -Đại hòa thượng, nội công thâm hậu của ông, tại hạ không
sao bì kịp.
Đến lúc ấy tuy chân khí trong đan điền Giác Viễn mỗi lúc một thịnh, nhưng hai
chân dẫu sao cũng chỉ là thịt da con người, đã cảm thấy đau nhức, nghe Hà
Túc Đạo kêu? lập tức ngừng lại, mỉm cười ngâm nga:
Nhất bình tụ thủ tương trí chi,
Hà hạ vi cừ phân hắc bạch?
(Một nước cờ đi xem cũng đủ,
Đâu cần quyết liệt đến hơn thua)
Hà Túc Đạo nói: -Đúng thế. Cuộc cờ này không cần phải đi quân, tôi dĩ nhiên
thua rồi. Để xin lãnh giáo ông về kiếm pháp.
Nói xong nghe xoẹt một tiếng, từ đáy chiếc dao cầm y đã rút ra một thanh
trường kiếm, mũi kiếm hướng thẳng về ngực mình, cán kiếm nghiêng nghiêng
ra bên ngoài. Chiêu khởi thủ này đã thật quái dị, chẳng khác gì dùng kiếm tự
giết mình, trong những kiếm pháp của thiên hạ, chưa từng thấy một chiêu nào
kỳ lạ như thế.
Giác Viễn nói: -Lão tăng chỉ biết niệm kinh đả tọa, quét nhà phơi sách, võ công
một chiêu cũng không biết.
Thế nhưng Hà Túc Đạo đời nào lại tin. Y cười khẩy mấy tiếng, tung mình vọt
đến, trường kiếm phóng bật ra, mũi kiếm đâm thẳng vào ngực Giác Viễn, xuất
chiêu nhanh như thế không một loại kiếm pháp nào bì kịp. Hóa ra chiêu kiếm
này không đâm thẳng vào đối phương mà trước hết phải tụ nội lực sau đó gom
kình bắn ra. Thế nhưng nội công Giác Viễn đã đến mức tòng tâm sở dục, thu
phát tự như, kiếm của Hà Túc Đạo tuy có nhanh, nhưng tâm của Giác Viễn lại
động còn nhanh hơn, ý đến đâu thì tay đến đó, thân ý là một. Tay phải ông
thu vào, cái thùng sắt lập tức tạt qua che ngay trước mặt, chỉ nghe keng một
tiếng, mũi kiếm đã đâm vào cái thùng sắt. Thân kiếm uốn lại, cong thành như
chiếc cung. Hà Túc Đạo thu trường kiếm về, thuận tay lại vung ra, thùng sắt
bên trái của Giác Viễn tạt qua, chặn lại một lần nữa.
Hà Túc Đạo nghĩ thầm: -Võ công ông có cao nhưng đôi thùng này nặng nề
chậm chạp làm sao có thể đỡ nổi đường khoái kiếm của ta? Giá như ông tay
không đối chiêu thì ta còn e ngại ba phần.
Y co tay búng vào thân kiếm một cái, kêu lên u u như tiếng rồng ngâm, kêu
lên: -Đại hòa thượng, xin cẩn thận!
Trường kiếm rung lên, trước sau trái phải, chỉ trong nháy mắt tấn công bốn
bốn mười sáu chiêu liền. Chỉ nghe keng keng keng liên tiếp, mười sáu đường
“Tấn Lôi Kiếm” của Hà Túc Đạo đều đâm vào hai chiếc thùng sắt. Người đứng
ngoài thấy Giác Viễn tay chân loạng quạng, lạng trái né phải, quả thực hết sức
lúng túng, đúng là không biết tí võ công nào. Thế nhưng mười sáu chiêu kiếm
của Hà Túc Đạo dù thần diệu đến đâu, đều bị Giác Viễn lấy cái hết sức vụng
về, hết sức nực cười dùng thùng sắt đỡ được cả.
Bọn Vô Sắc, Vô Tướng ở bên ngoài không khỏi lo lắng, đều kêu lên: -Hà cư sĩ
kiếm hạ lưu tình.
Quách Tương cũng nói: -Xin đừng dùng sát thủ.
Mọi người đều thấy Giác Viễn không biết võ, thế nhưng trong trận đấu này, dù
Hà Túc Đạo thi triển toàn lực vẫn không làm sao đụng đến đối phương một
mảy. Không ai biết rằng vì Giác Viễn chưa học võ bao giờ nhưng có thể đỡ
được kiếm chiêu chỉ bởi vì vô tình luyện thành thượng thừa nội công. Hà Túc
Đạo tấn kích không thành công, bất thình lình hét lên một tiếng, một ánh lấp
lánh, đâm thẳng kiếm vào bụng dưới Giác Viễn. Giác Viễn kêu lên “Ối chao?
trong cơn bối rối hai tay chập lại, nghe bình một tiếng, hai chiếc thùng sắt đã
kẹp cứng thanh trường kiếm. Hà Túc Đạo cố gắng giựt về, nhưng thanh kiếm
nào có nhúc nhích. Y ứng biến thật nhanh, lập tức bỏ kiếm, song chưởng cùng
đánh ra, chưởng lực như bài sơn đảo hải đánh thẳng vào mặt Giác Viễn.
Lúc ấy Giác Viễn đâu còn tay nào mà đỡ, trong tình thế nguy cấp Trương Quân
Bảo nghĩa thầy trò sâu đậm, liền nhảy tới dùng chiêu Tứ Thông Bát Đạt trước
đây Dương Quá đã dạy cho y, đánh chéo vào vai Hà Túc Đạo. Cũng lúc đó, nội
lực của Giác Viễn truyền vào thùng sắt, hai cột nước từ trong thùng vọt ra,
phun thẳng vào mặt Hà Túc Đạo. Chưởng lực và cột nước đụng nhau, nước
văng tung tóe khiến hai người đều ướt đẫm, tuy nhiên sức đánh của Hà Túc
Đạo cũng tiêu tan.
Hà Túc Đạo đang toàn lực cùng Giác Viễn chiến đấu nên không đỡ được thế
đánh của Trương Quân Bảo, chỉ nghe bịch một cái, vai y đã trúng chưởng.
Không ngờ Trương Quân Bảo tuổi còn nhỏ nhưng chưởng pháp thật kỳ diệu,
nội lực cũng thật thâm hậu, Hà Túc Đạo đứng không vững, phải lao đao đổ về
phía trái ba bước. Giác Viễn kêu lên: -A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, xin Hà cư sĩ
tha cho. Mấy đường kiếm của cư sĩ làm cho lão tăng sợ hết cả hồn vía.
Vừa nói ông vừa lấy vạt áo lau những giọt nước trên mặt, lui về tránh qua một
bên. Hà Túc Đạo giận dữ nói: -Thiếu Lâm tự là nơi ngọa hổ tàng long, quả
thực không vừa. Cả đến một đứa bé con thân thủ cũng đã như thế. Này cậu
bé kia, ra đây đấu với ta, nếu ngươi tiếp được mười chiêu, Hà Túc Đạo này
suốt đời sẽ không đặt chân vào Trung Thổ nữa.
Vô Sắc, Vô Tướng đều biết rằng Trương Quân Bảo chỉ là một đứa bé tạp dịch
trong Tàng Kinh Các, chưa từng luyện qua võ công, không biết trời xui đất
khiến thế nào lại đánh trúng y một chưởng, nếu như thực sự động võ, nói gì
mười chiêu, chỉ sợ một chiêu cũng đã táng mạng dưới tay Hà Túc Đạo rồi. Vô
Tướng ngang nhiên nói: -Lời nói đó của Hà cư sĩ sai rồi. Tên hiệu ông là Côn
Lôn Tam Thánh, võ học chấn cổ thước kim, sao lại động thủ với một thằng bé
pha trà quét sân? Nếu như không hiềm, để lão tăng ra tiếp cư sĩ mười chiêu.
Hà Túc Đạo lắc đầu: -Cái nhục một chưởng vừa rồi, đâu có như thế mà bỏ qua
được. Tiểu tử, coi chiêu đây.
Nói xong nghe vù một tiếng, y nhắm ngực Trương Quân Bảo đánh tới một
quyền. Quyền đó thế đánh thật nhanh, y và Trương Quân Bảo lại đứng thật
gần, Vô Sắc, Vô Tướng muốn cứu viện cũng không sao kịp. Mọi người đều kêu
khổ thầm, chỉ thấy Trương Quân Bảo hai gót chân không động, đầu bàn chân
lướt sang bên trái, thân mình lại thuận thế nghiêng về bên phải, thành hữu
cung tả tiễn bộ, nhẹ nhàng khéo léo tránh được quả đấm, tiếp theo bàn tay
bên trái nắm lại thành quyền để bảo vệ bên hông, chưởng bên phải đánh ra,
chính là một chiêu quyền pháp cơ bản của phái Thiếu Lâm tên gọi “Hữu Xuyên
Hoa Thủ”. Chiêu đó đánh ra khí ngưng trọng như núi cao, thế hùng hậu như
bể rộng sông dài, thực là phong phạm của danh gia kỳ túc, ai dám bảo là thân
thủ của một thiếu niên.
Hà Túc Đạo từ lúc bị y đánh trúng một chưởng vào vai, biết rằng thiếu niên
này nội lực còn hơn xa bọn Phan Thiên Canh, nhưng tin rằng chỉ mười chiêu
sẽ bị đánh bại. Y thấy chiêu “Hữu Xuyên Hoa Thủ” chỉ là công phu nhập môn
của phái Thiếu Lâm, nhưng cách thức phát chưởng chuyển thân, kình lực
hùng hồn, thân hình trầm ổn, không chỗ nào sơ hở để có thể phản kích lại,
nhịn không nổi phải kêu lên khen ngợi: -Hảo quyền pháp.
Vô Tướng chợt động lòng, nhìn Vô Sắc mỉm cười: -Chúc mừng sư huynh ám
trung thu được một đệ tử đắc ý.
Vô Sắc lắc đầu: -Không phải?
Chỉ thấy Trương Quân Bảo liên tiếp sử ba chiêu Ảo Bộ Lạp Cung, Đơn Phượng
Triều Dương, và Nhị Lang Đảm Sam, pháp độ nghiêm nhặt, kình lực vững
vàng, không kém bất cứ cao thủ nào trong phái Thiếu Lâm. Thiên Minh, Vô
Sắc, Vô Tướng và cả Tâm Thiền thất lão thấy Trương Quân Bảo đánh mấy
chiêu của Thiếu Lâm xuất sắc như thế, ai nấy đều kinh ngạc. Vô Tướng nói: –
Quyền pháp của y nghiêm cẩn thì đã đành, nhưng nội công cao như thế?
Vừa nói đến đây, Hà Túc Đạo đã đánh đến chiêu thứ sáu, bụng nghĩ thầm: –
Đến một thằng bé chưa ráo máu đầu mình chưa đối phó nổi, vậy mà dám đến
chùa Thiếu Lâm đưa thư khiêu chiến, chẳng khiến anh hùng trong thiên hạ
cười vẹo cả răng ư?
Đột nhiên y chuyển mình vùn vụt, đánh ra chiêu Thiên Sơn Tuyết Tiêu, bốn
phương tám hướng bay múa, chỉ nháy mắt đã bao phủ toàn thể thân hình
Trương Quân Bảo trong chưởng ảnh. Trương Quân Bảo trừ bốn chiêu do
Dương Quá dạy cho trên đỉnh núi Hoa Sơn, chưa được một võ sư nào giảng
giải võ công, bỗng dưng thấy hàng trăm hình bóng huyễn ảo, chưởng pháp
biến hóa vô cùng, chẳng biết cách nào sách giải. Trong cơn nguy cấp,? y
chuyển eo về phía trái thành hàn kê thế, hay tay giơ lên trên trán, hổ khẩu tay
trái đối chiếu với hổ khẩu tay phải, đó chính là Song Khuyên Thủ của Thiếu
Lâm quyền. Chiêu này nặng nề như núi, chiêu của địch không cần giải mà tự
giải được. Bất luận Hà Túc Đạo từ hướng nào tấn công tới, đều vướng vào
trong vòng Song Khuyên Thủ của Trương Quân Bảo.
Chỉ thấy tất cả các đệ tử của Đạt Ma Đường, La Hán Đường cùng reo hò như
sấm động, bội phục Trương Quân Bảo dùng một chiêu hết sức bình thường
không có gì kỳ lạ hóa giải được tất cả những chiêu thức cực kỳ phức tạp, ảo
diệu của đối phương.
Trong khi mọi người còn đang reo hò, Hà Túc Đạo bỗng hú lên một tiếng dài,
nghe vù một cái, đã nhắm ngực Trương Quân Bảo đánh ra một quyền. Quyền
pháp của y đang từ khéo léo chuyển sang vụng về, nhưng kình lực thật là phi
phàm. Trương Quân Bảo lập tức dùng chiêu Thiên Hoa Thất Tinh, hai chưởng
cùng đánh ra. Quyền chưởng gặp nhau, chỉ nghe bình một tiếng, Hà Túc Đạo
thân hình hơi loạng choạng, còn Trương Quân Bảo phải lùi về sau ba bước. Hà
Túc Đạo hừ một tiếng, quyền pháp không đổi, nhưng tiến lên hai bước, quyền
đánh ra đều hết sức cương mãnh. Trương Quân Bảo lại dùng chiêu Thiên Hoa
Thất Tinh hai chưởng đánh tới. Lại nghe bình một tiếng thật lớn, lần này
Trương Quân Bảo phải lùi năm bước. Hà Túc Đạo thân mình bổ về phía trước,
mặt biến sắc, quát lên: -Chỉ còn một chiêu nữa, ngươi hãy đem toàn lực ra
chống đỡ.
Y tiến lên ba bước, xuống mã bộ thật ổn, một quyền từ từ đánh ra. Lúc ấy
toàn thể mấy trăm người trong chùa Thiếu Lâm đều yên lặng không nghe một
tiếng động, ai cũng biết rằng quyền này là toàn thể anh danh một đời của Hà
Túc Đạo, không thể không kiệt tận toàn lực.
Trương Quân Bảo lại ra chiêu Thiên Hoa Thất Tinh lần thứ ba, nhưng lần này
quyền chưởng đụng nhau, vô thanh vô tức, hai người chỉ hơi rung động một
chút, rồi thúc đẩy nội lực ra kháng cự. Nói đến võ công gia số,? Hà Túc Đạo
phải giỏi gấp trăm lần Trương Quân Bảo. Thế nhưng khi tỉ đấu nội lực, Trương
Quân Bảo đã từng học được tâm pháp Cửu Dương Chân Kinh, nội lực liên
miên nối kết, hồn hậu tràn ra. Chỉ trong chốc lát, Hà Túc Đạo liệu thế không
thể thắng được y, nên tung mình nhảy lên, để chưởng lực Trương Quân Bảo
rơi vào khoảng không, lấy tay để vào lưng y đẩy nhẹ một cái. Trương Quân Bảo
té lăn ra đất, nhất thời không đứng dậy được.
Hà Túc Đạo xua tay phải, cười khẩy: -Hà Túc Đạo ơi là Hà Túc Đạo, sao ngươi
cuồng vọng đến thế.
Y hướng về phía Thiên Minh thiền sư vái một cái thật sâu, nói: -Võ công chùa
Thiếu Lâm dương danh đã hàng nghìn năm, quả nhiên không phải tầm
thường, hôm nay cho kẻ cuồng sinh này được mở mắt, thật đúng là người có
thịnh danh không thể là kẻ hư sĩ. Phục thay, phục thay.
Nói xong quay mình, đầu ngón châm điểm một cái, đã vọt ra xa mấy trượng.
Y ngừng lại, quay đầu nói với Giác Viễn: -Giác Viễn đại sư, người đó nhờ tôi
chuyển cáo một câu, nói là “Kinh thư ở trong dầu?.
Nói vừa dứt, đầu ngón chân lại điểm mấy cái, trong chớp mắt đã đi thật xa,
thân pháp nhanh như thế quả trên đời ít thấy.
Trương Quân Bảo từ từ đứng dậy, mặt mũi, đầu tóc dính đầy bùn đất. Tuy y bị
Hà Túc Đạo đẩy ngã, nhưng những cao thủ đều thấy rằng Hà Túc Đạo ăn gian
để bỏ đi. Tuy nhiên, trong lời y nói vẫn xác định là không địch nổi thần công
của phái Thiếu Lâm.
Một nhà sư già gầy gò trong Tâm Thiền Đường thất lão bỗng hỏi: -Võ công
của đệ tử này ai dạy cho đó?
Thanh âm của ông ta hết sức sắc nhọn, chẳng khác gì tiếng cú kêu trong đêm
khuya, người nào nghe thấy cũng không khỏi rùng mình. Bọn Thiên Minh, Vô
Sắc, Vô Tướng đều mang cái nghi vấn đó trong lòng, nên cùng hướng về phía
Trương Quân Bảo và Giác Viễn. Thầy trò Giác Viễn đứng trơ trơ, nhất thời
không sao trả lời được. Thiên Minh nói: -Giác Viễn nội công tuy tinh thông,
nhưng chưa học quyền pháp. Còn Thiếu Lâm quyền của thiếu niên này, do ai
dạy cho vậy?
Các đệ tử của Đạt Ma Đường và La Hán Đường đều không ai tưởng nổi nguy
nan của bản tự hôm nay, lại do thằng bé đó đứng ra cản được cường địch, lão
phương trượng thể nào cũng trọng thưởng, và người dạy y quyền pháp nội
công, cũng được vinh sủng.
Vị lão tăng đó thấy Trương Quân Bảo đứng yên không động, bất thần lông
mày nhướng lên, mặt đầy sát khí, gay gắt hỏi: -Ta hỏi ngươi, bài La Hán quyền
ai dạy cho ngươi đó?
Trương Quân Bảo từ trong bọc lấy ra đôi la hán bằng sắt Quách Tương tặng
cho, nói: -Đệ tử coi theo tư thức đôi thiết la hán này, tự mình học lấy vài
miếng, chứ thực không có ai truyền thụ võ công cả.
Lão tăng đó tiến lên một bước, thanh âm trầm xuống, nói: -Ngươi một lần nữa
minh minh bạch bạch nói lại là “Bài La Hán quyền này không phải một vị sư
phụ nào trong chùa dạy cho, mà chỉ tự học lấy”.
Ông ta tuy hạ giọng, nhưng trong lời nói lại càng uy hiếp thêm. Trương Quân
Bảo trong lòng thản nhiên, tự cho rằng mình không làm điều gì xấu xa, tuy lão
tăng đó thần thái dồn ép, nhưng cũng không sợ, lớn tiếng nói: -Đệ tử ở trong
Tàng Kinh Các quét nhà, châm trà, hầu hạ Giác Viễn sư phụ, không một ai
trong chùa dạy đệ tử võ công. Bài La Hán quyền là do đệ tử tự học, nếu sử
không được đúng cách, xin lão sư phụ chỉ điểm.
Vị lão tăng đó mắt như tóe lửa, trừng trừng nhìn Trương Quân Bảo một hồi
thật lâu, không nói một lời. Giác Viễn biết rằng vị này trong Tâm Thiền Đường
thất lão vai vế thật cao, là sư thúc của phương trượng Thiên Minh thiền sư.
Khi thấy ông ta đối với Trương Quân Bảo có vẻ thù hận như thế, không hiểu tại
sao, nhưng mắt ông ta chứa đầy oán độc, trong đầu bỗng dưng nảy ra một
điều, chẳng khác gì một tia lửa xẹt, nhớ lại một năm xưa vô tình đọc được
trong Tàng Kinh Các một cuốn sách nhỏ.
Cuốn sách mỏng đó chép lại một đại sự trong chùa:
Khoảng hơn bảy mươi năm trước, phương trượng chùa Thiếu Lâm là Khổ
Thừa, chính là sư tổ của Thiên Minh thiền sư. Trung thu năm đó,? trong chùa
có phiên khảo thí hàng năm tại Đạt Ma Đường, do phương trượng cùng hai vị
thủ tọa Đạt Ma Đường, La Hán Đường cùng xét võ công các đệ tử, để xem
trong năm qua đã tiến bộ đến mức nào. Sau khi các đệ tử biểu diễn xong, thủ
tọa Đạt Ma Đường là Khổ Trí thiền sư thăng tọa bình phẩm.
Bỗng nhiên từ trong đám đông, một đầu đà để tóc[2] vượt mọi người tiến ra,
lớn tiếng phê bình Khổ Trí thiền sư nói năng chẳng đâu vào đâu, không biết
căn bản võ công là gì, vậy mà lại giữ chức thủ tịch Đạt Ma Đường, thật đáng
xấu hổ. Chúng tăng ai nấy đều kinh ngạc, nhìn kỹ lại, hóa ra y là một người
nhóm lửa nấu ăn trong nhà bếp. Các đệ tử Đạt Ma Đường không đợi sư phụ
mở lời, đều lên tiếng quát mắng. Hỏa công đầu đà cũng quát lại: -Sư phụ thì
nói năng bậy bạ, đệ tử chúng bay cũng chẳng ra quái gì!
Nói xong nhảy vào đứng giữa sân. Các đệ tử từng người bước ra cùng y động
thủ, đều bị y cho mỗi người vài cú đấm, vài cái đá là thua cả. Thực ra tại Đạt
Ma Đường khi đấu với nhau, đồng môn so tài, chỉ tới mức hơn thua là ngừng
lại, ai ai cũng thủ hạ lưu tình. Thế nhưng gã hỏa công đầu đà ra tay cực kỳ tàn
độc, y liên tiếp đánh bại chín đại đệ tử của Đạt Ma Đường, chín nhà sư đó
không gãy tay thì cũng què chân, người nào cũng bị trọng thương.
Khổ Trí thiền sư vừa kinh hãi, vừa tức giận, thấy sở học của gã hỏa công đầu
đà toàn là võ công bản môn, chứ không phải cao thủ môn phái khác lẻn vào
quấy phá, nên cố nén giận, hỏi y do ai truyền dạy. Gã hỏa công đầu đà đáp: –
Không ai dạy tôi cả, tôi tự học một mình.
Hóa ra nhà sư giám quản bếp Hương Tích tính tình cực kỳ nóng nảy, đối với
đầu đà nhóm lửa, hơi sai một tí là giơ quyền thoi ngay. Y thân mang võ nghệ
nên mỗi lần đánh rất nặng tay. Gã hỏa công đầu đà trong ba năm liền bị đánh
hộc máu ba lần, trong lòng tích oán, nên lén lút học võ. Đệ tử chùa Thiếu Lâm
ai cũng biết võ, nếu muốn học lén các chiêu thức, thật rất nhiều cơ hội. Y
quyết tâm học để báo thù, lại trí tuệ hơn người, nên sau hơn hai mươi năm đã
luyện thành võ công thượng thừa. Tuy nhiên y giấu kín không ai hay biết,? vẫn
lặng lẽ ẩn thân dưới bếp chụm lửa, gã tăng nhân giám trù có đánh đập, y
cũng không đánh trả, có điều nội công đã tinh nên không còn bị thương nữa.
Tên hỏa công đầu đà đó tính tình âm hiểm, đợi tới lúc tin rằng võ công cao
hơn hết mọi người trong chùa, nhân kỳ khảo thí Trung Thu mới xuất đầu lộ
hiển thân thủ. Uất ức tích trong mấy chục năm nay, khiến y thù hận tất cả mọi
tăng nhân, nên khi xuất thủ không một chút dung tình.
Khổ Trí thiền sư hỏi kỹ đầu đuôi xong, cười nhạt ba tiếng, nói: -Cái khổ tâm
của ngươi, quả thật đáng kính.
Lập tức rời ghế đi xuống, ra tay cùng y tỉ thí. Khổ Trí thiền sư là cao thủ của
chùa Thiếu Lâm, nhưng phần vì niên kỷ đã cao, còn gã hỏa công đầu đà đang
tráng niên, hai nữa Khổ Trí ra tay dung tình, ngược lại hỏa công đầu đà ra
chiêu nào cũng đều là sát thủ, thành ra đấu đến hơn năm trăm hiệp, Khổ Trí
mới thắng được đối phương. Khi hai người sách đến chiêu Đại Triền Ti, bốn
cánh tay xoắn vào nhau, nhưng hai tay của Khổ Trí thiền sư đã ấn vào tử
huyệt trên ngực của địch thủ, chỉ cần phát nội lực là hỏa công đầu đà phải
táng mệnh, không còn cách gì giải nữa. Khổ Trí thương tình y tiềm tâm tự
luyện, nên tới đó là coi như đã xong, không nỡ giết y, hai tay vừa rời nhau, hét
lớn: -Lùi ra ngay.
Nào ngờ hỏa công đầu đà hiểu lầm ý của ông, lại tưởng là đối phương sử dụng
một chiêu trong Thần Chưởng Bát Đả. Thần Chưởng Bát Đả là một trong
những tuyệt học của phái Thiếu Lâm. Y đã từng xem đại đệ tử của Đạt Ma
Đường sử qua chiêu này, hai tay chém ra, đánh gãy một cái cột gỗ, kình lực
thật là kinh hồn. Hỏa công đầu đà võ công tuy cao, nhưng đều là học lén,
chưa được minh sư chỉ điểm, tuy thời gian có dài, nhưng đâu có thể học được
hết phái Thiếu Lâm bác đại tinh thâm. Thực ra chiêu đó của Khổ Trí thiền sư là
Phân Giải Chưởng, mượn sức để chế ngự sức, cả hai bên cùng lui ra, có ý
ngừng tay thôi không đấu nữa. Nào ngờ hỏa công đầu đà lại tưởng là chiêu?
thứ sáu trong Thần Chưởng Bát Đả là Liệt Tâm Chưởng, nghĩ thầm “Ngươi
định giết ta, đâu có dễ dàng như thế?. Lập tức tung mình nhảy lên, hai
chưởng đánh ra một lượt.
Hai chưởng đó như bài sơn đảo hải ào tới, Khổ Trí thiền sư hốt hoảng thu
chưởng về đỡ, nhưng không còn kịp nữa. Chỉ nghe lách cách mấy tiếng,
xương cánh tay trái? cùng bốn rẻ xương sườn đã bị đánh gãy nát.
Chư tăng đứng bên kinh hoàng biến sắc, lập tức xông lên cứu viện, nhưng
Khổ Trí thiền sư chỉ còn thoi thóp, nội tạng đã bị trọng thương, không nói được
một lời nào. Nhìn lại tên hỏa công đầu đà thì nhân lúc hỗn loạn đã trốn mất
không biết đi đâu. Tối hôm đó, Khổ Trí thiền sư vì bị thương quá nặng nên qua
đời. Trong khi cả chùa đang sầu thảm, gã hỏa công đầu đà lại lẻn trở vào,
dùng trọng thủ đánh chết nhà sư giám quản Hương Tích trù và năm tăng
nhân khác có hiềm khích với y. Cả chùa náo loạn, phương trượng phái vài chục
cao thủ đi bốn phương tìm kiếm, nhưng khắp Giang Nam, Giang Bắc, không
thấy tung tích y đâu.
Vì việc này mà các nhà sư vai vế cao trong chùa tranh chấp, người nọ đổ lỗi
cho người kia. Thủ tọa La Hán Đường là Khổ Tuệ thiền sư giận dữ bỏ đi, khai
sáng phái Thiếu Lâm Tây Vực. Ba người Phan Thiên Canh, Phương Thiên Lao,
Vệ Thiên Vọng chính là đệ tử tái truyền của Khổ Tuệ thiền sư.
Cũng tại thế mà võ học chùa Thiếu Lâm bị suy đồi suốt mấy chục năm. Từ đó
chùa ra qui định rằng, phàm người nào không được thầy truyền thụ mà tự
mình học lén võ công, nếu phát hiện ra nặng thì bị xử tử, nhẹ thì cắt hết cân
mạch toàn thân cho thành phế nhân. Từ đó tới nay trong chùa phòng phạm
nghiêm mật, không ai dám thâu học võ công, nên điều tự qui này dần dần mọi
người quên lãng.
Vị lão tăng trong Tâm Thiền Đường này chính là một đệ tử nhỏ của thủ tọa
Đạt Ma Đường Khổ Trí thiền sư xưa kia, cái cảnh thảm tử của ân sư mấy chục
năm trước vẫn in đậm trong đầu. Bây giờ thấy Trương Quân Bảo lại là kẻ
không được thầy truyền mà học lén võ công, nên vừa buồn rầu vừa giận dữ.
Giác Viễn giữ sách tại Tàng Kinh Các, sách nào cũng đọc qua, giật mình nhớ
lại câu chuyện này, mồ hôi lạnh chảy ướt đẫm lưng, kêu lên: -Lão phương
trượng, cái này … cái này không trách Quân Bảo được.
Nói chưa dứt câu, chỉ thấy thủ tọa Đạt Ma Đường Vô Tướng thiền sư quát lớn:
-Tất cả đệ tử Đạt Ma Đường cùng xông lên, bắt thằng nhỏ đó.
Lập tức mười tám tăng nhân đệ tử của Đạt Ma Đường đều tiến lên, vây quanh
Giác Viễn và Trương Quân Bảo làm thành một vòng tròn rất lớn, cả Quách
Tương cũng bị vây ở bên trong. Vị lão tăng Tâm Thiền Đường lại cao giọng
gay gắt tiếp: -La Hán Đường đệ tử, sao còn chưa hết sức xông lên?
Cả một trăm linh tám đệ tử La Hán Đường cùng cất tiếng đáp, giọng rền vang
như sấm: -Tuân lệnh!
Họ lập tức vây thêm ba vòng nữa bên ngoài Đạt Ma Đường.
Trương Quân Bảo chân tay lúng túng không hiểu vì đâu, cho rằng tại mình ra
tay đánh Hà Túc Đạo bỏ chạy, phạm phải tự qui, nên kêu lên: -Sư phụ, con?
Giác Viễn hơn mười năm nay đối với đứa học trò chẳng khác gì chính bản thân
mình, tình như cha con, biết rằng một khi Trương Quân Bảo bị bắt, nếu không
bị giết, thì cũng thành phế nhân. Lại nghe thấy Vô Tướng thiền sư quát tiếp: –
Sao chưa động thủ, chờ đến bao giờ?
Mười tám đệ tử Đạt Ma Đường cùng niệm Phật hiệu, tiến bước đi lên. Giác
Viễn không còn suy nghĩ gì nữa, vội đứng tại chỗ quay luôn một vòng, hai
chiếc thùng sắt vung ra, một luồng kình phong đẩy những nhà sư không ai
dám tiến lên nữa. Giác Viễn lại xoay người hắt nước trong thùng đổ ào ra, rồi
tiện thế bên trái múc Quách Tương, bên phải múc Trương Quân Bảo. Ông liên
tiếp xoay bảy tám vòng liền, hai chiếc thùng sắt được nội lực hùng hậu vô tỉ
truyền vào chẳng khác nào hai chiếc lưu tinh chùy có sức nghìn cân, thiên hạ
nào ai dám đỡ. Chúng đệ tử Đạt Ma Đường tứ tán tránh ra.
Giác Viễn bước lẹ như bay, gánh Quách Tương và Trương Quân Bảo chạy
thẳng xuống núi. Các tăng nhân miệng hò chân đuổi, chỉ nghe tiếng xích sắt
loảng xoảng mỗi lúc một xa, đuổi độ bảy tám dặm, tiếng xích không còn nghe
thấy nữa.
Chùa Thiếu Lâm qui luật cực nghiêm, thủ tọa Đạt Ma Đường đã ra lệnh bắt
Trương Quân Bảo, tuy các nhà sư thấy đuổi không kịp nữa rồi, nhưng vẫn hết
sức rượt theo. Thời gian càng lâu, cước lực càng rõ kẻ nhanh người chậm,
những người khinh công kém một chút bị bỏ lại sau. Đuổi đến lúc trời tối, dẫn
đầu chỉ còn năm người đại đệ tử, trước mặt lại thấy năm ba ngả đường, chẳng
biết Giác Viễn chạy theo đường nào. Đến lúc này, giá như có đuổi kịp thì năm
tăng nhân cũng không thể địch lại Giác Viễn và Trương Quân Bảo, nên chỉ còn
cách lủi thủi quay về chùa bẩm báo.
Giác Viễn gánh thêm hai người chạy một mạch mấy chục dặm mới ngừng
bước. Chỉ thấy nơi ông dừng chân là một vùng núi sâu, mây mù bốn bề,
những đàn quạ bay về nườm nượp. Giác Viễn nội lực tuy cao, nhưng qua một
trận chạy bán sống bán chết như thế, gân cốt cũng rã rời đến nỗi nhất thời
không để đôi thùng sắt xuống được.
Trương Quân Bảo và Quách Tương từ trong thùng nhảy ra, mỗi người đỡ một
bên thùng, từ trên vai ông xuống. Trương Quân Bảo nói: -Sư phụ,? thầy nghỉ
một lát, con đi kiếm xem có gì ăn không.
Thế nhưng chỉ thấy bốn bên cỏ mọc đến ngang đầu gối, ở nơi núi sâu hoang
vắng thế này, còn có gì mà ăn được. Trương Quân Bảo đi kiếm cả nửa ngày,
chỉ hái được? một vốc dâu dại, đem về ba người chia nhau ăn ngấu nghiến rồi
dựa lưng vào đá mà nghỉ.
Quách Tương nói: -Đại hòa thượng, tôi xem các nhà sư chùa Thiếu Lâm, trừ
ông và Vô Sắc thiền sư ra, người nào cũng thật là hồ đồ cổ quái.
Giác Viễn chỉ hừ một tiếng nhưng không đáp lời. Quách Tương nói tiếp: -Gã
Côn Lôn Tam Thánh kia đến chùa Thiếu Lâm, trong chùa không ai địch nổi,?
chỉ nhờ hai thầy trò ông đánh đuổi được y, mới bảo toàn được danh dự của
môn phái. Họ đã không cám ơn ông thì thôi, lại hung hăng định bắt Trương
huynh đệ, không phân biệt trắng đen phải trái, thật chẳng có lý do nào hết.
Giác Viễn thở dài một tiếng, nói: -Việc đó không trách lão phương trượng và
Vô Tướng sư huynh được, chùa Thiếu Lâm vốn có một điều tự qui?
Nói đến đây, hơi bị đứt đoạn, ông ho lên sù sụ. Quách Tương nhè nhẹ đấm
lưng cho ông, nói: -Ông mệt rồi, nằm ngủ một giấc đi, chuyện đó để từ từ kể
sau cũng không muộn.
Giác Viễn thở dài: -Đúng vậy, tôi mệt lắm.
Trương Quân Bảo đi gom một mớ củi, nhóm một đống lửa, để hơ cho khô quần
áo của mình và Quách Tương. Cả ba người ngồi dưới gốc cây to mà ngủ.
Quách Tương ngủ đến nửa đêm, bỗng nghe có tiếng Giác Viễn lẩm bẩm nói
một mình, hình như đang niệm kinh, mơ mơ màng màng tỉnh dậy, chỉ nghe
ông ta đọc: -? bỉ chi lực phương ngại ngã chi bì mao, ngã chi ý nhập bỉ cốt lý.
Lưỡng thủ chi tràng, nhất khí quán xuyên. Tả trọng tắc tả hư, nhi hữu dĩ khứ,
hữu trọng tắc hữu hư, nhi tả dĩ khứ khứ …(… sức của người vừa mới phớt qua
bên ngoài da thịt ta, ý của ta đã vào đến xương của người. Hai tay vừa đụng
nhau, một khí đã thông qua rồi. Bên trái nặng ắt bên trái cũng nhẹ, bên phải
đã đến rồi, bên phải nặng ắt bên phải cũng nhẹ, bên trái đã đến rồi)
Quách Tương bỗng thấy rùng mình “Ông ta không đọc kinh Phật kiểu không
tức thị sắc, sắc tức thị không, mà lại gì là tả trọng tả hư, hữu trọng hữu hư,
giống như võ học quyền kinh thì phải.?
Thấy ông ta ngưng lại một lát rồi niệm tiếp: -khí như xa luân, chu thân cụ yếu
tương tùy, hữu bất tướng tùy khứ, thân tiện tán loạn, kỳ bệnh ư yêu thoái lai
chi? (khí tựa như bánh xe, tùy chỗ nào trên cơ thể cần mà chạy đến, nếu
không tới lui theo ý mình, thân sẽ tán loạn, ắt sẽ bị bệnh ở hông và đùi rồi..)
Quách Tương nghe đến câu “kỳ bệnh ư yêu thoái lai chi?, trong bụng không
còn nghi ngờ gì nữa, biết là ông ta đang đọc những yếu chỉ trong võ học, nghĩ
thầm: -Vị đại hòa thượng này chẳng biết tí võ nào, chỉ vì say mê đọc sách,
trong sách có gì, đều coi như thiên kinh địa nghĩa cả. Năm trước gặp ông ta
lần đầu trên đỉnh núi Hoa Sơn, đã từng nghe ông ta nói rằng, trên mép lề
cuốn kinh Lăng Già do tự tay Đạt Ma lão tổ chép ra, lại có chép bộ Cửu Dương
Chân Kinh, ông ta cho rằng đây là kinh thư dạy về thuật giúp người ta được
thân thể khỏe mạnh, nên theo đó mà tu tập. Hai thầy trò ông ta không được ai
dạy dỗ gì cả, nhưng vô hình chung lại đạt tới mức cao thủ trong thiên hạ. Hồi
đó Tiêu Tương Tử đánh ông ta một chưởng, ông chỉ đứng yên mà chịu, vậy
mà chính Tiêu Tương Tử lại bị trọng thương, thần công như thế, chưa chắc
cha ta hay đại ca ca đã đạt tới được. Hôm nay thầy trò ông ta lại khiến cho Hà
Túc Đạo phải cúi đầu bỏ đi, chắc cũng nhờ công lực của Cửu Dương Chân
Kinh. Hiện giờ miệng ông ta lẩm bẩm tụng đọc kia, phải chăng chính là bộ kinh
đó?
Nàng nghĩ như thế, lại e làm dao động Giác Viễn, chỉ âm thầm ngồi dậy, lắng
nghe kinh văn, cố gắng ghi nhớ, tự nhủ: -Nếu quả thực ông ấy đang đọc bộ
Cửu Dương Chân Kinh thì những chỗ ảo diệu tinh vi, không phải chỉ một lúc
mà hiểu ngay được. Chi bằng mình cứ ghi nhớ, sau này nhờ ông ta giảng lại
cho cũng chưa muộn.
Lại nghe nhà sư già đọc tiếp: -? tiên dĩ tâm sử thân, tòng nhân bất tòng kỷ,
hậu thân năng tòng tâm, do kỷ nhưng tòng nhân. Do kỷ tắc trệ, tòng nhân tắc
hoạt. Năng tòng nhân, thủ thượng tiện hữu phân thốn, xứng bỉ kình chi đại
tiểu, phân lý bất thác; quyền bỉ lai chi trường đoản, hào phát vô sai. Tiền tiến
hậu thoái, xứ xứ kháp hợp, công di cữu nhi kỹ di tinh? (trước là dùng tâm để
sai khiến thân mình, theo người mà không theo mình, sau sẽ đến lượt thân đi
theo tâm, do mình nhưng tùy theo người. Theo mình thì sẽ vướng mắc, do
người thì sẽ linh hoạt. Biết theo người thì tay mình có gang tấc, cân đo được
sức của người lớn hay nhỏ, một ly một phân cũng không chạy; cân lượng của
người dài ngắn, một sợi lông cũng không sai. Lúc trước tiến nhưng sau lại lùi,?
mọi chỗ đều ăn khớp với nhau,? công phu càng lâu thì kỹ thuật càng tinh vi..)
Quách Tương nghe đến đó, không khỏi lắc đầu, trong bụng nghĩ thầm “Sai rồi,
sai rồi. Cha mẹ ta thường nói là, khi lâm địch, phải chế ngự người chứ không
để người chế ngự mình. Đại hòa thượng này nói không đúng? Lại nghe Giác
Viễn tụng tiếp: -Bỉ bất động, kỷ bất động, bỉ vi động, kỷ dĩ động. Kình tự
khoan nhi phi túng, tương triển vị triển, kình đoạn ý bất đoạn? (người chẳng
động thì ta cũng chẳng động. Người vừa hơi động, ta đã động rồi. Kình tưởng
như chậm chạp mà không lơi lỏng, sắp buông ra nhưng lại chưa bung, kình
đứt rồi nhưng ý chưa đứt?)
Quách Tương càng nghe càng thấy mù mờ, từ nhỏ tới giờ nàng học võ chỉ
nghe thấy nói tới việc ra tay trước để chế ngự người, ra tay sau thì bị người ta
chế ngự mình (tiên phát chế nhân, hậu phát chế ư nhân) lúc nào cũng cần
nhanh nhẹn, lúc nào cũng cần đi trước. Bây giờ nghe Giác Viễn đọc quyền
kinh yếu quyết, cái gì mà “theo mình thì sẽ vướng mắc, do người thì sẽ linh
hoạt”, khác hẳn với những gì nàng đã biết, nghĩ thầm: -Khi gặp địch phải ra
tay, hai bên tính mệnh đem ra đánh đổi, nếu như mình cứ bỏ mình, theo
người, địch bảo mình bên đông thì mình đi bên đông, bảo mình qua bên tây
thì mình qua bên tây, thì có khác gì đứng yên cho người ta đánh?
Nàng còn đang trù trừ suy nghĩ nên những gì Giác Viễn đọc tiếp nàng không
nghe thấy, nghe mà không vào. Dưới ánh trăng suông, bỗng thấy Trương
Quân Bảo cũng đang xếp bằng lắng tai nghe. Quách Tương nghĩ thầm: –
Không cần biết những gì ông ta đọc đúng hay không đúng, ta cứ ghi nhớ là
được. Lão hòa thượng này chấn thương Tiêu Tương Tử, lại dọa cho Hà Túc
Đạo chạy dài, đều chính mắt mình trông thấy. Những gì ông ta đọc là pháp
môn võ công, ắt phải có lý do cả”. Nghĩ thế nên nàng dụng tâm cố nhớ.
Giác Viễn thuận miệng đọc, chắp chắp nối nối, có lúc lại xen vào vài đoạn kinh
Lăng Già, nói về việc Phật tổ trên đảo Lăng Già thuyết pháp trên núi. Nguyên
lai bản Cửu Dương Chân Kinh này viết lẫn bên cạnh hay giữa những hàng chữ
của cuốn kinh Lăng Già, Giác Viễn đọc sách vốn có điểm hơi lẫn thẫn, cứ thuận
miệng mà đọc, nên vì thế cũng đọc luôn cả kinh Lăng Già. Bản kinh Lăng Già
này vốn viết bằng chữ Thiên Trúc, Giác Viễn đọc là đọc bản dịch, nên càng
thêm lẫn lộn. Quách Tương càng nghe lại càng không mò ra đầu mối, nhưng
cũng may là nàng bản tính thông minh, tuy Giác Viễn đọc kinh lẫn lộn qua lại,
nàng cũng vẫn nhớ được hai ba thành.
Mặt trăng từ từ chếch về hướng tây, bóng người cũng dần dần dài ra, tiếng
tụng kinh của Giác Viễn càng lúc càng nhỏ, âm thanh phát ra mơ hồ không rõ
tiếng. Quách Tương khuyên: -Đại hòa thượng, ông đã mỏi mệt cả ngày rồi,
ngủ thêm một giấc nữa đi.
Thế nhưng dường như Giác Viễn không nghe nàng nói, vẫn tiếp tục đọc: -? lực
tòng nhân tá, khí do tích phát. Hà năng khí do tích phát? Khí hướng hạ trầm,
do lưỡng kiên thu nhập tích cốt, chú ư yêu gian, thử khí chi do thượng nhi hạ
dã, vị chi hợp. Do yêu triển ư tích cốt, bố ư lưỡng bác, thi ư thủ chỉ, thử khí
chi do thượng nhi hạ dã, vị chi khai. Hợp tiên thị thu, khai tiện thị phóng.
Năng đổng đắc khai hợp, tiện tri âm dương? (lực theo người mà mượn, khí do
xương sống mà ra. Tại sao khí lại do xương sống mà ra? Khí đi xuống dưới, từ
hai vai thu vào trong xương sống, chảy vào eo, khí đó từ trên chạy xuống dưới
vậy, nên gọi là hợp. Từ eo chạy vào xương sống, rồi ra hai cánh tay, đi ra tới
tận ngón tay, khí đó từ dưới mà chạy lên trên vậy, nên gọi là khai. Hợp nên thu
vào, khai nên thả ra. Biết được lẽ khai hợp, tức là biết được âm dương?)
Ông ta càng tụng đọc, thanh âm càng nhỏ dần, sau cùng không còn nghe
thấy gì nữa, chắc đã ngủ thiếp đi rồi. Quách Tương và Trương Quân Bảo
không dám kinh động, chỉ cố gắng nhớ những kinh văn vừa mới nghe.
Thời gian trôi đi, trăng đã lặn về hướng tây, từ đâu đến các đàn chim bay lại,
làm đen cả một vùng. Lại thêm độ tàn một bữa ăn, phương đông trời sáng
dần, chỉ thấy Giác Viễn mắt nhắm nghiền, vai xuôi xuống, tĩnh tọa không động
đậy, nét mặt trông như đang mỉm cười.
Trương Quân Bảo chợt quay đầu, thấy sau gốc cây có bóng người thấp
thoáng, nhưng cũng kịp nhìn thấy một góc áo cà sa màu vàng. Y giật mình
kinh hãi, quát lớn: -Ai đó?
Chỉ thấy một lão tăng gầy cao từ sau gốc cây bước ra, chính là thủ tọa La Hán
Đường Vô Sắc thiền sư. Quách Tương vừa mừng vừa lo, hỏi: -Đại hòa thượng,
sao ông nhất định không bỏ cuộc, đuổi tới tận đây? Chẳng lẽ không bắt thầy
trò y về chùa không được hay sao?
Vô Sắc nói: -Thiện tai, thiện tai! Lão tăng biết lẽ phải trái, đâu phải là người
chấp nhặt cái qui luật cũ từ đời nảo đời nao? Lão tăng đến đây từ lúc nửa
đêm, nếu như muốn động thủ, đâu có chờ đến bây giờ. Giác Viễn sư đệ, Vô
Tướng sư đệ chỉ huy tăng chúng trong Đạt Ma Đường đang tìm ở hướng
đông, các ngươi mau nhắm thẳng hướng tây mà chạy.
Chỉ thấy Giác Viễn vẫn cúi đầu nhắm mắt, dường như chưa tỉnh. Trương Quân
Bảo tiến lên thưa: -Sư phụ tỉnh dậy đi, thủ tọa La Hán Đường đang nói chuyện
với sư phụ đó.
Giác Viễn vẫn không động đậy. Trương Quân Bảo kinh hoảng chạy tới, giơ tay
sờ vào trán ông ta, thấy lạnh ngắt, hóa ra đã viên tịch từ lâu rồi. Trương Quân
Bảo đau đớn quá, phục xuống kêu lên: -Sư phụ, sư phụ!
Thế nhưng ông ta làm sao có thể sống lại được. Vô Sắc thiền sư chắp tay hành
lễ, đọc một bài kệ:
Chư phương vô vân ế,
Tứ diện giai thanh minh.
Vi phong suy hương khí,
Chúng sơn tĩnh vô thanh.
Kim nhật đại hoan hỉ,
Xá khước nguy thúy thân.
Vô sân diệc vô ưu,
Ninh bất đương hân khánh?
(Bốn phương không mây phủ,
Mọi mặt đều sáng trong,
Gió nhẹ đưa hương tới,
Tĩnh lặng núi thinh không.
Hôm nay thật hoan hỉ,
Cởi được thân mong manh.
Không giận cũng không lo,
Lẽ đâu không chúc khánh?)
Tụng xong ông lặng lẽ bỏ đi.
Trương Quân Bảo khóc lóc một hồi, Quách Tương cũng sụt sùi mãi. Tăng
chúng chùa Thiếu Lâm khi viên tịch đều hỏa hóa. Cho nên hai người đi kiếm
cành khô thiêu pháp thân của Giác Viễn. Quách Tương nói: -Trương huynh đệ,
tăng chúng chùa Thiếu Lâm chắc chưa bỏ qua cho ngươi đâu, ngươi nên hết
sức cẩn thận. Chúng ta từ biệt nhau nơi này, sau này có lúc gặp lại.
Trương Quân Bảo gạt lệ đáp: -Quách cô nương, cô đi đâu? Cho tôi đi theo với
được không?
Quách Tương thấy y hỏi mình đi đâu, trong lòng chua chát, nói: -Ta chân trời
góc biển, hành tung không nhất định, chính mình cũng chưa biết đi đâu.
Trương huynh đệ, ngươi tuổi còn nhỏ, lại không có chút lịch duyệt giang hồ
nào, tăng chúng chùa Thiếu Lâm đang đi tìm bắt ngươi ở hướng đông, chỉ biết
thế.
Nàng tháo chiếc vòng đeo tay đưa cho y, nói: -Ngươi đem chiếc vòng này đến
thành Tương Dương kiếm cha mẹ ta, hai ông bà ắt sẽ đối đãi với ngươi tử tế.
Chỉ cần ngươi ở với cha mẹ ta thì dù tăng chúng chùa Thiếu Lâm có hung ác
đến đâu, cũng không dám đến tìm ngươi làm khó dễ.
Trương Quân Bảo nuốt lệ nhận chiếc vòng. Quách Tương lại nói tiếp: -Ngươi
nói với cha mẹ ta rằng, ta vẫn khỏe mạnh, ông bà đừng mong đợi. Cha ta rất
yêu kẻ thiếu niên anh hùng, thấy ngươi là một nhân tài thế này, không chừng
sẽ thu ngươi làm đồ đệ. Em trai ta trung hậu thật thà, chắc sẽ thân thiết với
ngươi lắm đấy. Chỉ có chị ta tính tình hơi nóng, mỗi khi không vừa ý, ăn nói
chẳng nể nang ai. Chỉ cần ngươi ngoan ngoãn vâng lời, thì không sao cả.
Nói xong nàng quay đầu đi thẳng.
Trương Quân Bảo thấy trời đất mênh mông nhưng sao không có chỗ nào cho
mình an thân, đứng trước đống tro hỏa táng sư phụ trầm ngâm cả nửa ngày,
mới ra đi. Đi được một quãng, chợt quay đầu, gánh đôi thùng sắt sư phụ để
lại, thất thểu bước đi. Trong núi rừng hoang vu, một thiếu niên gầy gò lặng lẽ
theo hướng tây mà đi, lòng buồn rười rượi, nói sao cho xiết cái cảnh thân cô
chiếc bóng, lênh đênh không nhà.
Đi được nửa tháng, đã đến cảnh giới tỉnh Hồ Bắc, không còn cách thành
Tương Dương bao xa. Các nhà sư chùa Thiếu Lâm trước sau vẫn không đuổi
kịp y chính vì Vô Sắc thiền sư có lòng che chở, cố ý dẫn tăng chúng theo
hướng đông mà tìm, thành ra hai bên càng lúc càng xa hơn.
Xế trưa hôm đó y đến trước một ngọn núi lớn, thấy cây cối rậm rạp um tùm,
sơn thế cực kỳ hùng vĩ. Hỏi thăm những người dân quanh đó, mới biết núi này
tên gọi là Võ Đương. Y ngồi dưới chân núi, tựa lưng vào một hòn đá mà nghỉ,
bỗng thấy một đôi nam nữ nhà quê từ con đường nhỏ bên núi đi tới. Hai người
sánh vai mà đi, trông thật thân mật, rõ ràng là một đôi vợ chồng trẻ. Người
đàn bà vừa đi vừa liến thoắng luôn mồm phiền trách anh chồng. Người đàn
ông thì chỉ cúi đầu, lặng thinh không đáp.
Bỗng nghe người vợ nói với chồng: -Anh là một nam tử hán, đại trượng phu,
lại không chịu tự mình làm ăn riêng, lại đến ăn nhờ ở đậu chị và anh rể, nếu
không đâu đến nỗi bị nhục nhã như thế. Vợ chồng mình còn mạnh chân khỏe
tay, tay làm hàm nhai, dù rau dưa cà muối, cơm cháo qua ngày cũng được, có
phải thảnh thơi không? Chứ anh không dám tự lập ở riêng, sinh ra trên đời này
cũng uổng.
Người đàn ông ậm ừ mấy tiếng, người đàn bà lại tiếp: -Người đời có nói rằng,
ngoài cái chết ra chẳng có cái gì gọi là lớn hết, chẳng lẽ không nhờ vả người
khác không sống được hay sao?
Người chồng nghe vợ dồn cho một trận không dám mở lời đáp lại, cái mặt
bành bạnh bây giờ tím lại.
-Những câu nói của người vợ từng chữ len vào tim Trương Quân Bảo “Anh là
một nam tử hán, đại trượng phu, lại không chịu tự mình làm ăn riêng? nếu
không đâu đến nỗi bị nhục nhã như thế? Người đời có nói rằng, ngoài cái chết
ra chẳng có cái gì gọi là lớn hết, chẳng lẽ không nhờ vả người khác không
sống được hay sao?
Y nhìn theo đôi vợ chồng nhà quê, đứng ngơ ngẩn một hồi, trong lòng trăn
qua trở lại, nghĩ đến những câu của người đàn bà. Chỉ thấy người đàn ông
đứng thẳng người lên, không biết nói mấy câu gì với vợ, mà nghe hai người
cười rộ lên, tựa hồ người chồng đã quyết chí tự lập, nên cả hai đều sung
sướng.
Trương Quân Bảo lại nghĩ tiếp: -Quách cô nương có nói rằng, bà chị cô ta tính
tình nóng nảy, ăn nói không nể mặt ai nên muốn ta chiều lòng bà ấy. Ta đường
đường là một người đàn ông, đâu lẽ phải hạ mình quị lụy người khác, cong
lưng uốn gối mong được yên thân. Đến như hai người nhà quê kia còn dám
hiên ngang đứng ra ở riêng, ta Trương Quân Bảo lẽ nào lại phải nép mình
trong hàng rào nhà người ta, chờ người ta sai bảo.
Y nghĩ tới đó, trong lòng đã quyết nên gánh đôi thùng sắt, trèo lên núi Võ
Đương, kiếm một cái hang, khát thì tìm suối, đói ăn trái hoang, chăm chỉ tập
luyện Cửu Dương Chân Kinh mà Giác Viễn đã truyền cho.
Vài năm sau, bỗng dưng hiểu ra: “Đạt Ma tổ sư là người Thiên Trúc, dẫu có
biết viết chữ Trung Hoa, thì văn lý cũng thô sơ. Bộ Cửu Dương Chân Kinh này
văn chương kỳ diệu khúc chiết, người nước khác nhất định không sao viết ra
được, hẳn là nhân sĩ Trung Thổ đời sau sáng tác. Có lẽ là tăng lữ của chùa
Thiếu Lâm, giả thác tên tuổi Đạt Ma tổ sư, viết trong những mép lề cuốn kinh
Lăng Già.?
Cái đạo lý đó, người vốn dĩ tin tưởng hoàn toàn vào kinh điển, không dám thay
đổi biến hóa như Giác Viễn không sao hiểu được. Có điều lý lẽ không có gì để
chứng minh, Trương Quân Bảo lúc đó tuổi còn nhỏ, cũng không biết chắc là
suy định của mình có đúng hay không.
Y được Giác Viễn dạy dỗ đã lâu, bộ Cửu Dương Chân Kinh này mười phần
cũng biết được năm sáu, trong mươi năm sau nội lực lại càng tiến bộ. Về sau y
lại đọc kỹ Đạo Tạng, tâm đắc được phép luyện khí của đạo gia. Một ngày kia, y
tại trong núi nhàn du, ngửng lên xem mây bay, nhìn xuống ngắm nước chảy,
cảm thấy sở ngộ nên trở về động suy nghĩ liên tiếp bảy ngày bảy đêm, bỗng
nhiên quán thông được cái lẽ nhu khắc cương trong võ học, vui sướng quá,
ngẩng mặt lên cười một hồi dài.
Chính tiếng cười đó đã khai sinh ra một vị đại tông sư trước chưa có ai mà sau
cũng không ai theo kịp. Những gì y tự mình tìm ra, cộng thêm với lẽ xung hư
viên thông của Đạo gia, và nội công của pho Cửu Dương Chân Kinh đã khai
sáng ra nền tảng cho võ công của phái Võ Đương mà nghìn năm sau vẫn còn
chói lọi.
Về sau y du ngoạn phương Bắc đến vùng Bảo Minh, nhìn thấy ba ngọn núi tú
lệ hùng vĩ, vươn lên đâm vào mây, lại nhân đã sở ngộ về võ học nên tự đặt cho
mình tên hiệu Tam Phong. Đó chính là kỳ nhân Trương Tam Phong trong lịch
sử võ học của Trung Quốc.
[1] Áo may bằng từng mảnh vải vuông ghép lại với nhau của nhà sư có địa vị
cao
[2] người đi tu nhưng không cạo đầu.


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.