Dữ Liệu Tử Thần

CHƯƠNG 4: CÓ GÌ ĐÓ KHÔNG ĐÚNG



Sachs từ Police Plaza trở về nhanh hơn nhiều so với việc đi bằng phương tiện giao thông công cộng hay phải quan sát đến các loại đèn tín hiệu. Vì cô đã gắn một chiếc đèn nháy của xe cảnh sát lên nóc xe mình, một chiếc Camaro SS đời 1969, đã được sơn lại thành màu đỏ như lửa cho tương xứng với tông màu Rhyme ưa thích cho chiếc xe lăn của anh. Sachs chẳng khác nào một cô nhóc vị thành niên, luôn tận dụng mọi cơ hội để bắt chiếc động cơ phải gầm hết công suất và xé tung lớp cao su của những lốp xe.
“Em đã copy mọi thứ rồi”, cô nói trong khi mang một cặp hồ sơ dày cộp đi vào phòng. Mặt cô hơi nhăn lại khi đặt nó xuống bàn.
“Em vẫn ổn chứ?”
Bị bệnh viêm khớp dày vò cuộc sống, Amelia Sachs phải uống Glucosamin, Chondroitin cùng các thứ thuốc như Advil hay Naprosyn như cơm bữa. Song, cô ít khi chịu thừa nhận tình trạng của mình, sợ rằng cơ quan sẽ bắt cô phải ngồi chết dí sau bàn giấy theo ý kiến của bên y tế nếu phát hiện ra bệnh trạng của cô. Ngay cả những lúc chỉ có cô và Rhyme, cô vẫn luôn kìm nén cơn đau. Nhưng hôm nay cô thừa nhận: “Thỉnh thoảng em lại có cơn đau tồi tệ hơn”.
“Em muốn ngồi không?”
Cô lắc đầu.
“Được rồi. Chúng ta có gì vậy?”
“Những bản báo cáo, danh sách bằng chứng và bản chụp lại các bức ảnh, không có các đoạn video. Chúng bị giữ ở chỗ ủy viên công tố quận.”
“Hãy ghi mọi thứ lên bảng. Anh muốn xem qua mô tả hiện trường vụ án và nhà Arthur.”
Cô bước đến bên một tấm bảng trắng và ghi các thông tin lên trong khi Rhyme chăm chú theo dõi.
Vụ sát hại Alice Sanderson
Căn hộ của Alice Sanderson:
– Vết gel cạo râu Edge Advanced, có chứa lô hội.
– Vụn bánh giòn, loại Pringles không chất béo, vị thịt nướng.
– Dao hiệu Chicago Cutlery (MW).
– Phân bón hiệu TruGro.
– Dấu giày loại Alton EZ-Walk, cỡ 10½.
– Vết găng tay cao su.
– Những ghi chép nhắc đến “Art” và một số điện thoại di động trả trước trong sổ ghi số điện thoại, không còn liên lạc được. Không lần ra được dấu vết (có khả năng về một mối quan hệ tình ái giữa nghi can và nạn nhân).
– Hai ghi nhớ: “Art – đồ uống” (tìm thấy ở văn phòng) và “Arthur” (ở nhà riêng).
– Nhân chứng nhìn thấy chiếc Mercedes màu xanh sáng, một phần biển số có các chữ cái NLP.
Xe của Arthur Rhyme:
– Sedan hiệu Mercedes C-Class đời 2004 màu xanh sáng, biển New Jersey số NLP 745, đăng ký dưới tên Arthur Rhyme.
– Vết máu trên cửa và sàn phía sau xe (ADN trùng khớp với nạn nhân).
– Khăn lau dính máu, trùng khớp với bộ khăn tìm thấy tại căn hộ của nạn nhân (ADN trùng khớp với nạn nhân).
– Đất với thành phần giống như mẫu đất tại Công viên Clinton State.
Nhà Arthur Rhyme:
– Gel cạo râu Edge Advanced, có chứa lô hội, có liên hệ với loại tìm thấy tại hiện trường.
– Bánh giòn hiệu Pringles, không chất béo, vị thịt nướng.
– Phân bón hiệu TruGro (tìm thấy trong ga ra).
– Bộ dao Chicago Cutlery, cùng loại MW.
– Giày Alton EZ-Walk cỡ 10½ với dấu giày tương tự như dấu tìm thấy tại hiện trường.
– Thư quảng cáo gửi trực tiếp từ phòng tranh Wilcox, Boston và phòng tranh Mỹ thuật Anderson-Billings, Carmel, đều về các buổi triển lãm tranh của Harvey Prescott.
– Một hộp găng tay cao su Safe-Hand có thành phần cao su tương tự như vết tìm thấy tại hiện trường (tìm thấy trong ga ra).
“Quỷ tha ma bắt, đúng là hoàn toàn đủ để buộc tội”, Sachs nói, lùi xa ra tấm bảng, hai tay chống nạnh.
“Một số điện thoại di động trả trước, rồi những ghi chép nhắc đến ‘Art’, nhưng chẳng hề có địa chỉ nơi anh ấy sống hay làm việc. Điều này hiển nhiên khiến người ta nghĩ đến một mối quan hệ… Còn chi tiết nào khác không?”
“Không. Ngoại trừ những bức ảnh.”
“Chiếu chúng lên đi”, vừa nói anh vừa xem qua các ghi chép trên tấm bảng, thầm tiếc vì đã không được tự mình kiểm tra hiện trường theo cách gián tiếp mà hai người vẫn hay thực hiện. Anh sẽ theo dõi hiện trường thông qua một tai nghe cỡ nhỏ và một chiếc máy quay video độ nét cao mà Amelia Sachs mang theo người. Những ghi chép này có vẻ là kết quả của một nhóm điều tra hiện trường có năng lực, nhưng chưa thể được coi là xuất sắc. Chỉ có những bức ảnh của căn phòng nơi hành động gây án xảy ra. Không có bức ảnh nào của những căn phòng khác.
Và cả con dao nữa… Anh nhìn thấy bức ảnh hung khí dính đầy máu nằm dưới gầm giường. Một viên cảnh sát đang nâng một góc diềm đăng ten của tấm ga trải giường lên để có được góc chụp rõ nét. Không có hình chụp con dao khi diềm ga trải giường được buông xuống. Nếu con dao bị che khuất khi diềm ga trải giường được buông xuống, có nghĩa là thủ phạm hoàn toàn có khả năng bỏ sót nó trong lúc vội vã. Nếu con dao vẫn có thể được trông thấy, đồng nghĩa với việc nó đã được để lại một cách có chủ ý để làm tang vật theo một âm mưu sắp đặt trước. Nhưng cảnh sát đã không để ý tới vấn đề này.
Anh xem xét kỹ lưỡng bức ảnh chụp đống vật liệu đóng gói bưu kiện vương vãi trên sàn nhà, có thể đó là những thứ đã được dùng để bảo quản bức tranh của Prescott khi vận chuyển.
“Có gì đó không đúng”, anh lẩm bẩm.
Sachs vẫn đang đứng gần tấm bảng trắng, hai tay chống nạnh, liếc nhìn về phía anh.
“Bức tranh”, Rhyme nói tiếp.
“Có vấn đề gì với nó sao?”
“LaGrange đưa ra hai động cơ gây án. Một, Arthur đánh cắp bức tranh của Prescott như một vỏ bọc vì anh ấy muốn giết Alice để loại bỏ cô ta khỏi cuộc đời mình.”
“Phải.”
“Nhưng”, Rhyme tiếp tục, “để làm cho hành động giết người trông có vẻ chỉ là tình cờ xảy ra trong một vụ trộm, một kẻ thủ ác khôn ngoan sẽ không đánh cắp thứ trong căn hộ có thể khiến người ta lần theo tới hắn. Nhớ lại xem, Art từng có một bức tranh của Prescott. Và anh ấy có những bức thư quảng cáo liên quan tới những bức tranh của tác giả này”.
“Đúng vậy, làm thế thật vô lý.”
“Cứ giả thiết rằng anh ấy thực sự muốn có bức tranh đó song không đủ tiền, vậy sẽ vừa dễ dàng vừa an toàn hơn nhiều so với chuyện phải sát hại gia chủ nếu đột nhập vào căn hộ và nhẹ nhàng nẫng nó đi trong lúc chủ nhà vắng mặt.”
Cho dù thái độ của người anh họ không phải là một chi tiết có nhiều sức nặng với Rhyme khi đánh giá sự có tội hay vô tội của ai đó, nhưng cũng làm anh khó hiểu.
“Rất có thể anh ấy không giả vờ. Rất có thể anh ấy thực sự vô tội… Em vừa nói hoàn toàn đủ chứng cứ để buộc tội, đúng không? Không chỉ đủ đâu mà là quá nhiều.”
Anh thầm nghĩ: Hãy thử giả thiết là anh ấy không làm chuyện đó, vậy thì sẽ rất nghiêm trọng. Vì đây không chỉ đơn thuần là một vụ nhầm lẫn danh tính, các bằng chứng trùng khớp một cách quá hoàn hảo… kể cả mối liên hệ không thể phủ nhận giữa máu nạn nhân và chiếc xe của anh ấy. Nếu Art vô tội, chắc chắn có kẻ nào đó đã lao tâm khổ tứ để đẩy anh ấy vào tròng.
“Anh nghĩ anh ấy bị giăng bẫy.”
“Tại sao?”
“Động cơ ư?”, anh lẩm bẩm. “Vào lúc này, chúng ta tạm chưa quan tâm vội. Câu hỏi cần đặt ra là kẻ sát nhân đã làm như thế nào. Nếu trả lời được, nó sẽ dẫn chúng ta tới kẻ nào. Có thể trong quá trình điều tra, sẽ biết lý do tại sao, nhưng hiện giờ đó không phải là ưu tiên. Vì thế bắt đầu với giả thiết rằng một ông X nào đó, đã sát hại Alice Sanderson và đánh cắp bức tranh, sau đó đẩy Arthur vào bẫy. Vậy hắn đã làm chuyện này như thế nào, Sachs?”
Cô nhăn mặt khó chịu, lại là căn bệnh viêm khớp. Cô buộc phải ngồi xuống, ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Ông X đã theo dõi cả Arthur và Alice. Hắn nhận ra họ có chung một sở thích về mỹ thuật nên đã bày cách nhử họ cùng tới phòng tranh và tìm hiểu danh tính của họ”.
“Ông X biết cô gái có một bức tranh của Prescott. Hắn thèm khát muốn có một bức nhưng không đủ khả năng nên đã nghĩ tới việc sát hại nạn nhân để chiếm đoạt.”
“Chính xác.” Sachs gật đầu nhìn vào danh sách bằng chứng. “Sau đó, hắn đột nhập vào nhà Arthur, biết được anh ta có ăn bánh giòn Pringles và dùng gel cạo râu Edge, phân bón TruGro cũng như bộ dao Chicago Cutlery. Hắn đánh cắp mỗi thứ một ít để dàn cảnh. Hắn cũng biết Arthur đi loại giày nào vì thế hắn có thể để lại dấu giày và hắn còn khôn khéo lấy một ít đất từ công viên dính vào chiếc xẻng của Arthur…”
“Bây giờ, chúng ta hãy thử cùng nghĩ về ngày Mười hai tháng Năm. Bằng cách nào đó, ông X biết Art luôn rời chỗ làm sớm vào các ngày thứ Năm để đi chạy trong một công viên vắng vẻ, như vậy anh ấy không thể có bằng chứng ngoại phạm. Hắn đã tới căn hộ của nạn nhân, đâm chết cô gái, đánh cắp bức tranh và gọi từ một chiếc điện thoại trả trước tới cảnh sát, thuật lại những tiếng hét cũng như việc hắn nhìn thấy một người đàn ông mang theo bức tranh chui vào một chiếc xe rất giống với chiếc xe của Arthur, kèm theo một phần biển số. Sau đó, hắn tới nhà Arthur ở New Jersey và để lại những vết máu, đất, chiếc khăn lau và chiếc xẻng.”
Chuông điện thoại reo. Người gọi là luật sư bào chữa cho Arthur. Giọng ông ta tỏ ra khó chịu khi thuật lại những chi tiết ông trợ lý ủy viên công tố quận đã giải thích. Ông ta không cung cấp được gì có ích, không những vậy còn vài lần thuyết phục họ ép Arthur nhận tội. “Bọn họ sẽ kết án anh ta”, ông ta nói. “Hãy thuyết phục anh ta nhận tội. Tôi sẽ cố giúp giảm án xuống chỉ còn mười lăm năm.”
“Chừng đó năm ngồi tù sẽ hủy hoại anh ấy”, Rhyme nói.
“Vẫn còn hơn một án chung thân.”
Rhyme lạnh lùng chào tạm biệt rồi tắt máy. Một lần nữa anh lại nhìn chằm chằm vào tấm bảng ghi các bằng chứng.
Rồi một điều gì đó chợt lóe lên trong đầu anh.
“Có chuyện gì thế anh?” Sachs nhận thấy đôi mắt anh ngước lên trần nhà.
“Có thể trước đây hắn đã từng làm chuyện tương tự thì sao?”
“Ý anh là gì?”
“Giả thiết rằng động cơ của hắn là đánh cắp bức tranh, thì đây không phải là phi vụ hắn làm một lần trong đời. Nếu hắn cuỗm một bức Renoir 1 đáng giá mười triệu thì có thể lặn mất tăm mãi mãi. Nhưng vụ này có vẻ như một toan tính lâu dài. Thủ phạm tìm ra một phương thức hoàn hảo để thoát thân sau khi gây tội ác. Và hắn sẽ tiếp tục làm vậy cho tới khi bị bắt.”
“Phải, rất thuyết phục. Vậy là chúng ta cần tìm kiếm các vụ trộm tranh khác?”
“Không. Tại sao hắn chỉ trộm tranh không thôi? Hắn có thể trộm bất cứ thứ gì. Nhưng sẽ luôn có một chi tiết chung.”
Sachs cau mày trước khi đưa ra câu trả lời. “Án mạng.”
“Chính xác. Thủ phạm đã cài bẫy một người khác, nên hắn cần phải sát hại các nạn nhân vì họ có thể nhận diện hắn. Em hãy gọi cho ai đó ở phòng Án mạng, gọi đến nhà riêng nếu cần. Chúng ta đang tìm kiếm những vụ có bối cảnh tương tự: một tội ác làm nền, có thể là một vụ trộm, nạn nhân bị sát hại và những bằng chứng rất chi tiết tại hiện trường.”
“Có thể cả một mối liên hệ nào đó cho phép xác định được ADN.”
“Khá lắm”, anh nói rất phấn chấn với ý nghĩ có thể họ sắp tìm ra điều gì đó. “Nếu hắn vẫn trung thành với công thức của mình, sẽ có một nhân chứng nặc danh gọi đến 911 cung cấp những thông tin nhận dạng rất cụ thể.”
Cô đi tới chiếc bàn làm việc rồi ngồi xuống bấm số thực hiện cuộc gọi.
Rhyme ngả đầu ra sau trên chiếc xe lăn, quan sát người đồng nghiệp đang gọi điện thoại. Anh nhận ra có vết máu đã khô dính trên móng tay cô. Phải tinh ý mới nhìn thấy một vết xước nhỏ ngay phía trên tai, bị che lấp một phần dưới mái tóc thẳng màu đỏ. Sachs thường xuyên gãi đến xước da đầu và cắn móng tay, gây ra cho mình những tổn thương nho nhỏ vừa là một thói quen vừa là một dấu hiệu cho thấy cô đang căng thẳng.
Cô đang gật đầu lia lịa, đôi mắt tập trung cao độ trong khi ghi chép. Trái tim của anh đập mạnh hơn, dù anh không thể trực tiếp cảm nhận được điều ấy. Cô đã tìm hiểu được điều gì đó quan trọng. Chiếc bút đang dùng hết mực. Ném vội nó xuống sàn, cô hối hả vớ lấy một chiếc bút khác nhanh như lúc rút súng tại các buổi thi bắn trong điều kiện tác chiến.
Sau mười phút, cô gác máy.
“Rhyme, anh nghe nhé.” Cô ngồi xuống một chiếc ghế đan bằng liễu gai ngay cạnh anh. “Em đã nói chuyện với Flintlock 2.”
“À, một lựa chọn tuyệt vời.”
Joseph Flintick, với biệt danh Flintlock, khiến người ta hồi tưởng đến những khẩu súng cổ xưa, đã làm thám tử điều tra án mạng từ khi Rhyme còn là lính mới vào nghề. Ông già từng trải này biết rõ gần như toàn bộ các vụ án mạng xảy ra ở thành phố New York và khu vực lân cận trong suốt thâm niên phục vụ của mình. Ở tuổi đáng ra đã phải đi thăm cháu, Flintlock vẫn làm việc vào ngày Chủ nhật. Rhyme không hề ngạc nhiên về điều đó.
“Em cho ông ấy biết tất cả và ông ấy ngay lập tức nhớ ra hai vụ rất có thể khớp với những gì chúng ta đang tìm. Một vụ đánh cắp các đồng xu hiếm có giá trị khoảng năm mươi ngàn đô la. Vụ còn lại là một vụ cưỡng dâm.”
“Cưỡng dâm?” Chi tiết này góp thêm một khía cạnh khó lường và đáng lo ngại hơn cho vụ án.
“Phải. Trong cả hai vụ, một nhân chứng nặc danh đã gọi điện thoại đến thông báo và cung cấp một số thông tin đóng vai trò rất quan trọng để nhận dạng thủ phạm, tương tự như vị nhân chứng đã gọi đến mô tả về chiếc xe của anh họ anh.”
“Và tất nhiên cả hai người gọi điện đều là đàn ông?”
“Chính xác. Chính quyền thành phố đã đặt giải thưởng song không ai trong hai người này lộ diện.”
“Thế còn các bằng chứng?”
“Flintlock không nhớ chính xác. Nhưng ông ấy nói là luôn có các dấu vết để lại cùng các mối liên hệ rất chặt chẽ. Năm hay sáu bằng chứng theo lớp được phát hiện tại hiện trường và nhà nghi phạm, giống như những gì đã xảy ra với anh họ anh. Trong cả hai trường hợp, cảnh sát đều tìm thấy máu nạn nhân dính trên khăn lau hay một trang phục lấy từ nơi ở của nạn nhân.”
“Anh dám cược rằng không hề phát hiện ra vết dịch sinh học nào trùng khớp trong vụ cưỡng dâm.”
Phần lớn những kẻ cưỡng dâm bị kết tội do để lại những dấu vết của một trong ba thứ dịch sinh học: tinh dịch, nước bọt hay mồ hôi.
“Không. Không hề có.”
“Những người gọi điện thoại nặc danh, có phải lúc nào họ cũng cho biết một phần biển đăng ký xe, đúng không?”
Cô nhìn vào bản ghi chép. “Chính xác, sao anh biết?”
“Vì gã thủ phạm của chúng ta cần câu giờ. Nếu hắn cung cấp toàn bộ biển số, ngay lập tức cớm sẽ lao thẳng đến nhà kẻ làm vật thí mạng, như thế hắn sẽ không kịp bố trí tang vật tại đó. Kẻ sát nhân đã lường trước mọi thứ. Tất cả những người bị tình nghi đều phủ nhận phải không?”
“Phải. Họ đều cố thử vận may với bồi thẩm đoàn nhưng đều thua cuộc.”
“Không, chuyện này quá trùng hợp”, Rhyme lẩm bẩm. “Anh muốn xem qua…”
“Em đã nhờ người lấy hồ sơ từ kho lưu trữ các vụ đã thụ lý xong.”
Anh bật cười. Như thường lệ, cô lại đi trước anh một bước. Anh nhớ lần đầu tiên hai người gặp nhau nhiều năm trước, Sachs lúc đó là một nhân viên tuần tra đã hoàn toàn vỡ mộng và sẵn sàng từ bỏ sự nghiệp cảnh sát. Còn Rhyme đang muốn từ bỏ nhiều hơn thế. Kể từ lúc đó, họ đã cùng nhau đi một đoạn đường thật xa.
Rhyme nói vào micro điều khiển. “Nhận lệnh, gọi cho Sellitto.” Anh đang thực sự bị kích động. Anh có thể cảm nhận được cảm giác phấn khích không lẫn vào đâu được, một tâm trạng hồi hộp đến run người mỗi khi sắp bước vào một cuộc săn lùng. Trả lời cái điện thoại chết tiệt đó đi chứ, anh bực bội thầm nghĩ, và lần đầu tiên hoàn toàn quên bẵng nước Anh.
“Chào, Linc.” Giọng nói đậm chất Brooklyn của Sellitto vang lên khắp căn phòng. “Có chuyện gì vậy anh bạn?”
“Nghe này. Tôi có một rắc rối.”
“Còn tôi đang bận ngập cổ đây.”
Gần đây tâm trạng đồng đội cũ của Rhyme, Trung úy thám tử Lon Sellitto, không được tốt. Một vụ án lớn mà anh ta tham gia vừa bị chìm xuồng. Vladimir Dienko, tên đồ tể của một trùm xã hội đen Nga ở khu Brighton Beach, đã bị truy tố vào năm trước với các tội danh tống tiền và giết người. Rhyme đã hỗ trợ ban chuyên án cùng một số chuyên gia pháp y khác. Nhưng mọi người đều sững sờ khi vụ truy tố Dienko và ba đồng phạm của gã bị bãi bỏ vào hôm thứ Sáu, vì tất cả nhân chứng đều lật lại lời khai hoặc biến mất tăm. Sellitto cùng các đặc vụ liên bang đã bận bù đầu suốt dịp cuối tuần cố tìm ra các nhân chứng và người cung cấp tin mới.
“Tôi sẽ nói nhanh thôi.” Anh kể lại những gì đã tìm ra về vụ anh họ mình cũng như hai vụ án cưỡng dâm và đánh cắp tiền xu hiếm.
“Hai vụ khác? Lạ lùng thật. Thế anh họ anh nói sao?”
“Tôi chưa kịp gặp. Nhưng anh ấy phủ nhận tất cả. Tôi muốn điều tra lại vụ này.”
“”Điều tra lại?”
“Tôi không tin Arthur gây ra vụ đó.”
“Anh ta là anh họ anh. Tất nhiên, anh không nghĩ anh ta là thủ phạm. Nhưng anh có bằng chứng gì không?”
“Giờ thì chưa. Chính vì thế tôi cần anh giúp. Tôi cần vài người.”
“Tôi ngập đến tận cổ với vụ Dienko ở Brighton Beach rồi.”
“Vụ này có thể to chuyện đấy, Lon. Ngoài ba vụ án có mùi sắp đặt tang vật kia, tôi dám cược còn có nhiều vụ khác nữa. Tôi biết anh khoái mấy câu cửa miệng của anh đến mức nào, Lon. Như thế nào nhỉ, năm từ ‘tóm cổ kẻ sát nhân’ không làm anh động lòng sao?”
“Anh muốn nhét vào tai tôi bất cứ câu nào thì tùy, Linc, tôi bận rồi.”
“‘Tóm cổ kẻ sát nhân’ là một cụm từ, Lon. Một câu thì phải có đủ cả chủ ngữ lẫn vị ngữ.”
“Cái gì cũng được. Tôi đang cố cứu vãn vụ đám người Nga. Chẳng có ai ở Tòa thị chính hay Cục Điều tra liên bang tỏ ra vui vẻ với những gì vừa xảy ra.”
“Tôi hoàn toàn thông cảm với họ. Nhưng hãy cho điều tra lại vụ này đi.”
“Đó là việc của bên Án mạng. Tôi thuộc Ban Trọng án.”
Ban Trọng án của Sở Cảnh sát New York không điều tra các án mạng thông thường, nhưng câu viện cớ của Sellitto khiến Rhyme bật cười chua chát. “Anh sẽ nhảy vào các vụ điều tra án mạng khi nào anh muốn làm thế. Từ khi nào anh bắt đầu tôn trọng các nguyên tắc của ban vậy?”
“Tôi cho anh hay những gì tôi sẽ làm”, anh chàng thám tử lầm bầm. “Có một tay đại úy vẫn làm việc hôm nay, ở khu trung tâm – Joseph Malloy. Biết ông ta chứ?”
“Không.”
“Em biết”, Sachs nói. “Một người đàn ông cứng rắn.”
“Chào, Amelia. Cô vẫn sống sót được với đợt lạnh hôm nay sao?”
Sachs bật cười. Rhyme cằn nhằn.
“Vui quá nhỉ, Lon. Ông ta là gã quái nào thế?”
“Khôn lanh. Không bao giờ thỏa hiệp. Không hề có khiếu hài hước. Anh sẽ thích ông ta.”
“Ngày nay có quá nhiều tay hề lảng vảng khắp nơi rồi”, Rhyme lẩm bẩm.
“Ông ta rất nghiêm túc. Một tín đồ của công lý thực thụ. Vợ ông đại úy này đã bị giết trong một vụ đột nhập tư gia năm hay sáu năm trước.”
Sachs nhăn mặt. “Tôi không hề biết chuyện đó.”
“Phải và ông ta tập trung một trăm năm mươi phần trăm vào công việc. Dân tình đồn rằng ông ta đang nhắm tới một vị trí trong văn phòng ở tầng trên. Hoặc thậm chí ngay cửa kế bên.”
Tòa thị chính.
Sellitto nói tiếp: “Thử gọi cho ông ta xem ông ta có cho anh được vài người không”.
“Tôi muốn chính anh cho người.”
“Quên đi, Linc. Tôi đang phải chỉ huy một chiến dịch giám sát bí mật liên tục. Một cơn ác mộng. Nhưng hãy cho tôi biết diễn biến tình hình và… “
“Tôi phải ngắt máy đây, Lon… Nhận lệnh, ngắt liên lạc.”
“Anh đã cúp máy ngay trước mũi anh ta đấy”, Sachs nhận xét.
Rhyme khẽ làu bàu rồi ra lệnh gọi điện thoại cho Malloy. Nếu rơi vào hộp thư thoại lần nữa, chắc hẳn anh sẽ phát khùng.
Nhưng viên đại úy trả lời ngay sau tiếng chuông thứ hai. Lại một sĩ quan cảnh sát cao cấp nữa làm việc ngày Chủ nhật. Rhyme cũng làm như vậy tương đối thường xuyên và vụ ly dị là bằng chứng quá rõ ràng.
“Malloy đây.”
Rhyme xưng tên.
Một thoáng ngập ngừng. Rồi: “Thế này nhé, Lincoln… chúng ta chưa từng gặp nhau. Nhưng tất nhiên tôi biết về anh”.
“Tôi đang ở bên cạnh một trong các thám tử của ông, Amelia Sachs. Chúng ta đang nói qua loa ngoài, Malloy.”
“Buổi chiều vui vẻ, thám tử Sachs”, giọng nói lạnh lùng từ đầu dây bên kia vang lên. “Tôi có thể làm gì cho hai người?” Rhyme nói vắn tắt về vụ án và lý do khiến anh tin Arthur bị cài bẫy.
“Anh họ anh? Rất tiếc phải nghe điều này.” Nhưng giọng ông ta chẳng hề lộ chút tiếc rẻ nào. Malloy có thể đang lo Rhyme muốn ông ta can thiệp giúp giảm nhẹ các tội danh, nhẹ nhất là tình cờ có mặt không đúng lúc. Còn xa nhất là viễn cảnh một cuộc điều tra nội bộ và giới truyền thông. Tất nhiên, ngược lại cũng chẳng hay ho gì vì ông không giúp người đã đem đến những trợ giúp vô giá cho Sở Cảnh sát New York, hơn nữa lại là người tàn tật. Cư xử đúng đắn đang là mốt thời thượng trong chính quyền thành phố.
Nhưng rõ ràng những gì Rhyme đề nghị còn rắc rối hơn nhiều. Anh nói thêm: “Tôi tin rất có khả năng cũng thủ phạm này đã gây ra nhiều tội ác khác”. Rồi cung cấp chi tiết về vụ đánh cắp đồng xu và vụ cưỡng dâm.
Vậy là không chỉ một mà có tới ba người đã bị bắt oan bởi các nhân viên Sở Cảnh sát New York của Malloy. Có nghĩa là trên thực tế ba vụ án có liên quan chưa được phá xong và kẻ thủ ác thực sự vẫn đang lọt lưới. Nếu không giải quyết êm thấm vụ này có thể sẽ lại xuất hiện một cơn ác mộng nữa với phản ứng của công chúng.
“Quả thật rất lạ. Không bình thường… Tôi biết sự trung thành của anh với anh họ mình…”
“Tôi có lòng trung thành với sự thật, Malloy”, Rhyme nói, chẳng hề bận tâm liệu câu trả lời của mình có khoa trương quá không.
“Được thôi…”
“Tôi chỉ cần một vài cảnh sát giúp chúng tôi tìm hiểu lại bằng chứng trong các vụ án kể trên. Có thể cả điều tra một chút.”
“Ồ, tôi hiểu… Thế này nhé, rất xin lỗi anh, Lincoln. Đơn giản là chúng tôi không có người cho những chuyện kiểu này. Nhưng tôi sẽ đề cập việc này với ông phó giám đốc sở ngay ngày mai.”
“Anh nghĩ có thể gọi cho ông ấy ngay bây giờ không?”
Lại một thoáng chần chừ nữa. “Không. Hôm nay ông ấy có việc bận.”
Ăn trưa. Tiệc ngoài trời với thịt nướng. Hoặc cũng có thể là một suất diễn vào sáng Chủ nhật của Young Frankenstein 3 hay Spamalot 4.
“Tôi sẽ đề cập đến yêu cầu của anh trong cuộc giao ban. Đây là một trường hợp lạ lùng. Anh không nên làm gì cho tới khi tôi hoặc ai đó gọi lại.”
“Tất nhiên rồi.”
Hai người gác máy. Rhyme và Sachs cùng im lặng trong vài giây.
Một trường hợp lạ lùng…
Rhyme nhìn đăm đăm lên chiếc bảng trắng, trên đó là bức ảnh hiện trường chụp thi thể nạn nhân đang nằm ở tư thế lúc từ giã cuộc sống.
Sachs lên tiếng hỏi, phá vỡ sự im lặng: “Không biết Ron đang làm gì?”.
“Sao chúng ta không thử tìm hiểu xem nhỉ?” Anh dành cho cô một nụ cười chân thành hiếm hoi.
Cô lấy điện thoại di động ra, bấm nút quay số nhanh, rồi bật loa ngoài.
Một giọng trẻ trung vang lên giữa tiếng lạo xạo: “Vâng, thưa bà thám tử”.
Sachs đã tìm mọi cách để cậu sĩ quan tuần tra trẻ tuổi Ron Pulaski gọi cô là “Amelia” từ nhiều năm nay, nhưng chẳng bao giờ cậu ta quen cách xưng hô này.
“Cậu đang nói qua loa ngoài đấy, Pulaski”, Rhyme cảnh báo.
“Vâng, thưa ông.”
Từ “ông” làm Rhyme thực sự không thoải mái, nhưng lúc này anh chẳng còn tâm trạng để chỉnh cậu thanh niên.
“Ông vẫn khỏe chứ?”, Pulaski hỏi.
“Ổn cả”, Rhyme đáp. “Ngay lúc này cậu đang làm gì vậy? Việc đó quan trọng không?”
“Ngay lúc này ấy à?”
“Tôi nghĩ tôi vừa hỏi xong.”
“Rửa bát. Jenny và tôi vừa dùng bữa với vợ chồng anh trai tôi xong. Chúng tôi đã cùng lũ trẻ tới chợ bán đồ nông sản. Rất tuyệt. Ông và thám tử Sachs đã bao giờ…?”
“Vậy là anh đang ở nhà và không bận việc gì?”
“Có đấy. Đống bát đĩa.”
“Bỏ chúng đấy. Tới đây ngay.”
Rhyme, một dân thường, không hề có quyền ra lệnh cho bất cứ người nào của Sở Cảnh sát New York, cho dù là đám cảnh sát giao thông. Nhưng Sachs là một thám tử cấp ba, cô không cần yêu cầu anh chàng này giúp họ, cô hoàn toàn có thể ra lệnh điều động. “Chúng tôi cần cậu, Ron, hôm nay và có thể cả ngày mai.”
Ron Pulaski thường xuyên làm việc với Rhyme, Sachs và Sellitto. Tham gia điều tra cho nhà thám tử pháp y nổi danh đã nâng cao không ít vị thế của cậu sĩ quan trẻ trong ban. Rhyme tin chắc cấp trên của cậu ta sẽ đồng ý để cậu làm việc cho họ trong vài ngày, chừng nào ông ta còn chưa gọi cho Malloy hay bất cứ ai ở Sở và phát hiện thực ra chẳng có vụ điều tra nào hết.
Pulaski cho Sachs tên của viên trưởng đồn. Sau đó hỏi: “Ồ, thưa ông, Trung úy Sellitto có tham gia vụ này không? Tôi có nên gọi và phối hợp với ông ấy không?”.
“Không cần”, cả Rhyme và Sachs cùng buột miệng.
Một chút im lặng, rồi Pulaski nói với vẻ không chắc chắn: “Tôi sẽ có mặt sớm nhất có thể. Chỉ là, liệu tôi có thể lau khô mấy cái ly trước khi đi được không? Jenny ghét nhất là vết nước ố trên ly”.
——————————–
1 Tức Pierre-Auguste Renoir: một họa sĩ người Pháp, nhân vật tiên phong trong sự phát triển của trường phái biểu hiện.
2 Súng hỏa mai.
3 Bộ phim hài Mỹ của đạo diễn Mel Brooks.
4 Tức Monty Python’s Spamalot: vở nhạc kịch hài của Mỹ dựa theo bộ phimMonty Python and the Holy Grail.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.