Rình Rập

CHƯƠNG 15



Trước khi gặp John Kragopoulos tại văn phòng địa ốc, Dorothy phải trang điểm lại đôi chút để đôi mắt ửng đỏ của mình không quá lộ rõ. Bà tự nhủ việc đưa người đi xem ngôi nhà tháp canh là dịp để hướng tâm trí vào một chuyện khác, không còn bị dày vò bởi sự vô vọng tìm kiếm những manh mối nhằm phát hiện hai đứa bé mất tích.
Thông thường, Dorothy có thói quen đưa khách đi một vòng quanh các vùng phụ cận của ngôi nhà mà họ định mua, chỉ cho họ xem những bãi biển, hồ, bến cảng của du thuyền và những dinh thự cổ nằm rải rác giữa xa lộ Cranberry và vịnh. Như thế họ sẽ có dịp ngắm tháp Mausliop và những kiến trúc cổ của thành phố.
Nhưng hôm nay, vì tuyết tan đang quất mạnh trên mui và kính xe, vì bầu trời đen kịt mây và làn không khí lạnh thấu xương, nên Dorothy quyết định đưa khách đi thẳng đến ngôi nhà Tháp Canh.
Dorothy thấy rất khó để tập trung vào công việc của mình. Đầu óc bà rối bời. Là người từ nhiều năm qua không hề khóc, vậy mà giờ đầy bà phải cắn môi để nén những giọt lệ. Bà thấy mình bị trĩu nặng bởi ưu phiền và lo sợ, một sự trĩu nặng xem chừng khó lòng gánh vác một mình.
Lái xe trên con đường trơn trượt hiểm nghèo, bà thỉnh thoảng liếc mắt về người đàn ông có nước da sạm nắng ngồi cạnh. John Kragopoulos trạc độ bốn mươi lăm tuổi. Tuy dáng người lực lưỡng như một vận động viên thể thao, nhưng dáng điệu của ông trông phong nhã.
Ông cho Dorothy biết rằng vợ chồng ông vừa bán cái nhà hàng ở New York và dự tính sẽ mở nhà hàng ở một vùng mà họ sẽ định cư lâu dài. Họ đang tìm một nơi có thể thu hút khách hàng gồm những người về hưu khá giả vào mùa đông và đồng thời cũng là điểm đông khách du lịch vào mùa hè.
Sau khi cân nhắc những điều kiện mà Kragopoulos vừa nêu, Dorothy nói:
– Nếu mở nhà hàng ở phía bên kia Cape thì đó là điều tôi khuyên ông không nên vì phía bên ấy đã có quá nhiều motels và pizzerias, nhưng phía bên này thì tuyệt vời. Ngôi nhà Tháp Canh sẽ là nơi lý tưởng để mở nhà hàng hoặc khách sạn. Vào những năm 30, nó đã được nâng cấp để trở thành câu lạc bộ thể thao, nhưng dạo đó không mấy ai đủ giàu có để làm hội viên nên vì thế câu lạc bộ không tồn tại được lâu. Cuối cùng, ông Hunt đã mua lại ngôi nhà này, kể cả khu đất gồm bốn hecta và ba trăm thước bờ biển, một trong những vùng có cảnh quang đẹp nhất của Cape.
– Có phải trước đây ngôi nhà Tháp Canh là của những người đánh cá?
Dorothy hiểu rằng trước khi đi xem ngôi nhà, John Kragopoulos đã có chuẩn bị và nghiên cứu kỹ – một bằng cớ cho thấy ông ta đã quan tâm đến nó.
Bà gật đầu:
– Đúng vậy. Vào năm 1690, một thuyền trưởng tàu đánh cá voi đã xây ngôi nhà này cho vợ ông. Trong lần nâng cấp sau cùng cách đây bốn mươi năm, người ta đã xây thêm hai tầng, nhưng cái mái nhà thì vẫn giữ như cũ cùng với những ban công gần đỉnh ống khói, những ban công mà cư dân ở đây gọi là “những chiếc cầu của góa phụ” để tưởng nhớ những bà vợ các thủy thủ thường ra đó đứng ngóng người chồng biền biệt.
– Biển quả là khó lường. Chẳng hay ngôi nhà đó có một bến để neo tàu? Nếu sống ở đó, tôi sẽ mua một chiếc thuyền.
– Vâng, có một bến rất tốt – Dorothy đáp, rồi thốt lên, “Ồ! Chúa tôi!” khi thấy xe lệch ra khỏi con đường hẹp, khúc khuỷu, dẫn đến ngôi nhà Tháp Canh.
Sau khi kềm được chiếc xe, Dorothy e ngại liếc nhìn người đàn ông ngồi cạnh, nhưng ông vẫn bình thản và cho biết ông ngưỡng phục sự can đảm của một phụ nữ dám cầm lái trên những con đường trơn trượt như thế này.
Lời nói đó phần nào xoa dịu nỗi tuyệt vọng của Dorothy. Quả là một phép lạ khi xe không lao ra khỏi đường. Với thời tiết như thế này thì bà đành bó tay với bao dự tính khi giới thiệu ngôi nhà. Ngoài ra, thời tiết cũng ngăn trở việc tìm kiếm hai đứa bé. Phải chi trời tốt thì, giờ đây hẳn có nhiều người đang đổ xô đi tìm kiếm trên các bãi biển, trong những cánh rừng và đường phố.
Dorothy nói:
– Tôi thích lái xe. Chỉ tiếc là không có ông Eldredge cùng đi với chúng ta. Hẳn anh đã hiểu lý đo.
– Vâng, tôi hiểu. Không gì bi thảm hơn là cha mẹ mất con. Tôi rất tiếc phải quấy rầy bà vào một ngày như hôm nay. Là bạn và đồng thời là cộng tác viên của gia đình Eldredge hẳn bà cũng rất lo lắng.
Trước giọng nói và thái độ thiện cảm của John Kragopoulo Dorothy né tránh trả lời, bà nói:
– Bây giờ, tôi xin được phép mô tả đôi chút về ngôi nhà. Mọi cửa sổ mặt tiền của nó đều hướng ra vịnh, cửa chính có một chân vòm rất sang trọng, phù hợp với lối kiến trúc hàng đầu vào thời ấy. Các căn phòng lớn ở tầng trệt đều có lò sưởi với những góc cạnh thật hài hòa. Vào những ngày như hôm nay, hẳn nhiều người sẽ thích thú được ngồi trong một nhà hàng, thưởng thức một bữa ăn ngon lành lò sưởi, trong khi ngắm cảnh mưa gió trên vịnh. Chúng ta đến rồi đây.
Ở ngã rẽ sau cùng, ngôi nhà Tháp Canh hiện ra trước mắt họ. Sừng sững trong cái âm u đang bao trùm, ngôi nhà tạo ra cho Dorothy một ấn tượng buồn bã và hoang vắng. Trải qua bao mưa nắng, lớp ngói gỗ của nó mang màu xám khô khan. Tuyết tan rơi lã chã trên các cửa sổ, cửa vòm và những bậc thang, như muốn rửa sạch màu thời gian. Dorothy ngạc nhiên khi thấy Parrish để cửa nhà xe mở toang hoác. Bà thầm nghĩ, hẳn ông ta đã vào nhà, hai tay ôm mớ thực phẩm vừa mua và quên trở ra để đóng cửa. Dẫu sao, đây cũng là dịp may cho Dorothy. Bà sẽ đưa thẳng chiếc xe vào đó, đậu cạnh xe của Parrish, rồi chạy nhanh vào nhà.
Dorothy nói với John Kragopoulos khi ra khỏi xe:
– Tôi có chìa khóa cửa sau nhà này. Tiếc rằng tôi quên mang theo cây dù. Hy vọng rằng anh sẽ không bị ướt đẫm.
– Không sao đâu. Chị khỏi lo cho tôi. Tôi không phải là công tử bột. Bộ chị không thấy sao?
Dorothy mỉm cười, gật đầu:
– Được, vậy thì chúng ta chạy nhanh vào.
Họ ào ra khỏi nhà xe, men sát theo năm mươi thước tường để chạy về cửa nhà bếp. Gió thổi mạnh, lồng vào áo choàng và quất mạnh tuyết tan vào mặt họ.
Dorothy thấy rằng cửa đã khóa bên trong và bực tức nghĩ, ông Parrish này theo lẽ phải biết điều hơn. Bà lục sắc tay và cuối cùng, tìm thấy cái chìa của ổ khóa bên trong. Bà nhấn chuông để báo cho ông Parrish biết họ đến. Tiếng chuông còn vang vọng trong cầu thang khi bà đẩy cửa vào.
Điềm tĩnh, John Kragopoulos phủi những giọt tuyết tan trên áo choàng rồi dùng khăn tay lau mặt. Dorothy thầm ngưỡng phục sự trầm tĩnh đó trong khi bà cố dằn sự nôn nóng. Bà muốn nhanh chóng đưa ông ta đi xem cho xong ngôi nhà. Càng nhanh càng tốt, để trở về với vợ chồng Eldredge; có thể giờ đây họ đã được tin về hai đứa bé.
Bà nhìn John Kragopoulos trong khi ông ta cẩn thận xem xét căn bếp và thầm nghĩ đến Jonathan Knowles. Bà thắc mắc tự hỏi, tại sao mọi chuyện lại đổi thay một cách nhanh chóng đến thế, bi thảm đến thế…?
– Thưa bà Prentiss?
– Vâng. Ồ, xin lỗi, hôm nay tôi hơi đãng trí. Vâng, căn bếp này cần phải được sửa sang cho hiện đại hơn, nhưng ưu điểm của nó là rộng rãi và bố trí tốt. Lò sưởi ở đây đủ lớn để có thể nướng một con bò – nhưng tôi nghĩ là anh sẽ trang bị những lò nướng hiện đại.
Tiếng gió gào rít quanh ngôi nhà nghe thê lương và khiến Dorothy phải nói lớn tiếng hơn. Bà tưởng chừng vừa nghe thấy có tiếng đóng cửa ở tầng trên và – thoáng trong một giây – tiếng rên rỉ. Bà thầm nghĩ, hẳn mình quá căng thẳng. Chiều nay, ngôi nhà này làm bà cảm thấy bất an. Và căn bếp sao lạnh lẽo thế này!
Dorothy vội vã đưa John Kragopoulos xem các căn phòng ở mặt tiền, cảnh quang của vịnh phía trước khiến ông càng quan tâm hơn đến ngôi nhà. Đứng bên nhau Dorothy và John Kragopoulos lặng lẽ nhìn những con sóng bạc đâu đang xô nhau về những mỏm đá, vỡ vụn rồi dạt ngược ra biển.
Dorothy nói:
– Khi thủy triều lên, những mỏm đá đó hoàn toàn bị che lấp. Ở phía trái, sau con đê chắn sóng, có bãi biển tuyệt đẹp với cát mịn, cạnh đó là bến neo tàu. Bãi biển và bến neo đó thuộc ngôi nhà này.
Dorothy đưa John Kragopoulos lần lượt xem qua các phòng, lưu ý ông đến lớp ván sàn bằng gỗ sồi khổ lớn, những lò sưởi bề thế, cửa sổ có kính ghép màu, xứng hợp với một nhà hàng hạng sang. Ở tầng một, ông xem xét những căn phòng lớn khả dĩ có thể làm phòng khách sạn.
Dorothy giải thích:
– Trong khi nâng cấp ngôi nhà, người ta đã cải tạo những phòng nhỏ thành phòng tắm, ăn thông với những phòng lớn. Như vậy, mọi phòng ở đây xem như hoàn bị, chỉ cần sơn quét và lót thảm nữa là ổn. Những chiếc giường bằng đồng ở đây không thôi cũng đã là cả gia sản rồi. Ngoài ra, bàn ghế đồ đạc ở đây cũng rất đẹp. Ông hãy xem cái cômốt này thì rõ.
John Kragopoulos tỏ vẻ quan tâm đến ngôi nhà. Chỉ cần nhìn ông mở những cánh cửa tủ, gõ gõ những ngón tay lên các bức tường, mở các vòi nước là đủ hiểu.
Dorothy nói:
– Ở tầng hai cũng có chừng này phòng và được bố trí tương tự như đây. Ông Parrish hiện sống trong một căn hộ ở tầng ba. Trước đây, căn hộ đó được dành cho giám đốc câu lạc bộ. Nó rất rộng. Từ đó ta có thể thấy được cảnh quang thành phố và vịnh.
John Kragopoulos lặng lẽ đi quanh phòng. Thấy mình hơi nhiều lời, Dorothy bước đến bên cửa sổ. Bà thầm nghĩ, hãy để ông ta thoải mái xem xét ngôi nhà và nêu lên những thắc mắc. Điều chủ yếu là mọi việc cần phải nhanh, thật nhanh. Bà muốn rời khỏi nơi đây để về với vợ chồng Eldredge, hỏi thăm tin tức hai đứa bé.
Không muốn nấn ná lâu ở đây, Dorothy đột ngột nói:
– Thôi, chúng ta hãy lên tầng ba. Hẳn anh sẽ thích thú khi trông thấy căn hộ đó.
Dorothy trở ra hành lang và hướng dẫn John Kragopoulos đến cầu thang chính:
– Hệ thống sưởi của ngôi nhà này được chia thành bốn khu vực khác nhau. Điều này giúp tiết kiệm dầu mazout.
Họ bước lên lầu ba. Dorothy giải thích:
– Tầng hai cũng tương tự như tầng một. Từ bảy năm nay ông Parrish đã mướn căn hộ ở tầng ba này để mỗi năm sống ở đây vài tháng. Vâng, chúng ta đến rồi đây. Ở cuối hành lang.
Dorothy gõ cửa căn hộ. Không nghe trả lời, bà gọi:
– Ông Parrish. Ông Parrish?
Rồi bà mở xắc tay và nói:
– Lạ thật. Chẳng hiểu ông ấy đi đâu mà xe vẫn còn đó. Tôi có mang theo chìa khóa căn hộ đây.
Cáu kỉnh, Dorothy lục lọi xắc tay. Hồi nãy, qua điện thoại, ông Parrish đã tỏ ra không hài lòng khi nghe bà sẽ đưa người đến xem nhà. Nếu vắng nhà thì ông ta phải báo cho bà chứ. Bà hy vọng căn hộ sẽ không đến nỗi bừa bãi khiến người khách mua nhà cảm thấy chán chê.
Dorothy không để ý thấy quả đấm cửa vừa xoay từ phía trong. Vì thế, khi cánh cửa đột ngột mở ra, bà ngửng đầu lên và giựt mình khi trông thấy ánh mắt dò hỏi và khuôn mặt ướt đẫm mồ hôi của Courtney Parrish.
– Sao quý vị lại chọn một ngày như thế này để đến xem nhà! – Parrish nói và lùi lại để Dorothy và John Kragopoulos bước vào.
Y tính rằng trong khi giữ cánh cửa mở và né sang một bên, y sẽ khỏi bắt tay họ. Đôi tay y ướt đẫm mồ hôi.
Y quan sát John Kragopoulos và Dorothy rồi tự hỏi, liệu họ có nghe tiếng kêu của đứa bé gái – chỉ một tiếng duy nhất? Y đã quá ngu ngốc… quá hấp tấp. Sau khi nhận cú điện thoại, y đã phải vội vã. Trong khi gom quần áo của hai đứa bé, suýt chút nữa là y đã quên chiếc áo lót của con bé. Rồi hộp phấn talc đã rơi xuống, đổ ra ngoài, khiến y phải lau chùi sàn nhà.
Lúc nãy, y đã giấu hai đứa bé trong một hốc nhà phía sau lò sưởi, sau khi đã buộc miệng và cột tay chân chúng.
Y biết rằng những ngôi cổ của vùng Cape thường có những hốc kín đáo như thế, nơi mà thuở xưa những cư dân đầu tiên của vùng này dùng để trú ẩn khi bị bọn da đỏ tấn công. Thế rồi, sau khi để hai đứa bé ở đó, y bỗng cảm thấy hoảng loạn, sợ rằng con mụ văn phòng địa ốc biết cái hốc đó bằng cách nhấn vào một nút giấu nơi tủ sách của phòng sinh hoạt.
Vì e ngại Dorothy biết cái nút đó, nên khi thấy chiếc Buick của bà ta chạy vào nhà xe, Parrish đã vội vã rời vị trí quan sát nơi cửa sổ để chạy vội xuống nhà dưới, đưa hai đứa bé lên giấu trong một tủ hốc tường trong phòng y. Theo y thì như vậy là tốt… tốt hơn hết. Y sẽ nói rằng y chứa thực phẩm trong cái tủ đó và không nhớ đã để chìa khóa ở đâu. Vì y đã thay ổ khóa tủ nên con mụ địa ốc sẽ không thể dùng chìa khóa mang theo để mở. Dẫu sao, con mụ cũng có thể cho khách xem qua cái tủ khác, nó cũng sâu và có kích thước như nhau. Y thầm nghĩ, sao mình rắc rối đến thế… để có thể phạm phải một sai lầm.
Dorothy và John Kragopoulos đã nấn ná khá lâu ở tầng dưới, đủ để cho y rà soát lại lần cuối căn hộ và biết chắc không quên sót điều gì. Bồn tắm vẫn đầy nước, nhưng đó là vì y cố tình để như thế. Lúc nãy y đã tỏ ra cáu kỉnh khi trả lời điện thoại vì vậy y muốn cho Dorothy hiểu rằng y đang chuẩn bị đi tắm. Điều đó cùng lý giải cho cái giọng thiếu trầm tĩnh của y.
Lòng nôn nóng muốn được ở bên đứa bé gái làm y xót xa. Từ nơi thẳm sâu trong y dâng lên cái ước muốn nóng bỏng đó. Vào lúc này đây, con bé chỉ ở cách y vài thước, sau cánh cửa tủ đó. Ồ, y thấy khó có thể chờ đợi lâu hơn.
Y thầm nhủ, “Hãy thận trọng… thận trọng”. Y cố lắng nghe tiếng nói của lương tri, nhưng sao khó quá.
Có giọng nói:
– Tôi là John Kragopoulos.
Y thấy gã đàn ông đó chìa tay ra. Y vụng về lau bàn tay ướt đẫm mồ hôi vào quần trước khi bắt tay người khách.
Y nói bằng giọng cau có:
– Tôi là Courtney Parrish.
Khuôn mặt người khách lộ vẻ nhờm gớm khi bắt tay y.
Y thầm nghĩ, “Lại một thằng pêđê nữa… phân nửa số nhà hàng phía bên này Cape đều của những thằng pêđê. Bây giờ, bọn chúng cũng muốn nuốt cả ngôi nhà này nữa. Thật ra, sẽ chẳng sao cả, vì kể từ ngày mai, y sẽ không cần đến nó nữa”.
Bỗng dưng, y nhận thức rằng, một khi ngôi nhà này được bán đi, sẽ chẳng ai thắc mắc khi không còn trông thấy Courtney Parrish xuất hiện trong vùng này nữa. Lúc đó, y có thể theo chế độ ăn kiêng để giảm cân, có thể để tóc mọc trở lại và thay đổi ngoại hình, vì y cần phải tham dự phiên tòa xử Nancy, một khi người ta đã tìm thấy xác hai đứa bé và kết tội nàng. Thật là đơn giản. Y quả là người tốt số.
Một sự sảng khoái dâng lên trong y, khiến y rùng mình. Bỗng dưng, y nói, thật tự tin:
– Ông Kragopoulos à, tôi rất hân hạnh được biết ông. Rất tiếc là ông đến xem ngôi nhà tuyệt đẹp này vào lúc thời tiết quá xấu.
Như một phép lạ, hai tay, nách và bẹn của y không còn ướt đẫm mồ hôi.
Không khí căng thẳng giảm dần giữa ba người. Thật ra, Parrish nhận thấy rằng sự căng thẳng này chủ yếu xuất phát từ Dorothy. Điều đó cũng dễ hiểu thôi. Trong những năm gần đây, y đã hàng trăm lần trông thấy bà ta ra vào nhà Eldredge, đẩy hai đứa bé trên cái đu và lái xe đưa chúng đi chơi. Y đã liệt bà ta vào hạng: một bà góa ở tuổi ngũ tuần cố tỏ ra rằng mình là người hữu ích. Một kẻ sống bám, chết chồng, không con. Cái may của bà là bà không có mẹ già đau yếu để phụng dưỡng. Hầu hết những người như bà đều gặp trường hợp này. Điều đó giúp họ có được cái hình ảnh của một người phải xả thân hy sinh cho một ai đó, được trở thành một người cần thiết. Và nếu có con, họ sẽ dành mọi quan tâm cho con họ, tương tự như mẹ của Nancy.
Y quay sang nói với Dorothy:
– Tôi đã nghe tin tức qua đài, kinh khiếp thật, chẳng hay người ta đã tìm thấy hai đứa bé chưa?
– Chưa. – Dorothy đáp.
Bà không dằn được sự nôn nóng của mình. Cái đài vẫn còn mở trong căn phòng. Bà thoáng nghe câu “bản tin đặc biệt”. Bà vội nói, “xin lỗi” và chạy ào đến bên cái đài, mở lớn tiếng, “… bão đang lớn dần. Xin quý vị hãy đề phòng những cơn gió giật với sức gió từ tám mươi đến một trăm cây số giờ. Nên tránh lái xe trong cơn bão. Việc lặn tìm trong hồ và những cuộc tìm kiếm bằng máy bay hai đưa bé con ông bà Eldredge đã bị đình lại, nhưng các xe cảnh sát vẫn tiếp tục tuần tra tại Adam Port và vùng phụ cận. Thanh tra Jed Coffin của Adam Port yêu cầu những ai biết bất cứ một thông tin nào về hai đứa bé cũng như phát hiện bất cứ một ô-tô lạ hoặc người lạ mặt nào trong vùng, hãy gọi ngay số: KC 53800. Danh tánh của người báo sẽ được giữ kín”.
Bình luận viên của đài phát thanh nói tiếp: “Theo một nguồn tin có thẩm quyển thì bà Nancy Harmon Eldredge sẽ được đưa về sở cảnh sát để thẩm vấn”.
Dorothy thầm nghĩ, bà cần phải trở về với Ray và Nancy. Bà quay sang John Kragopoulos:
– Như anh thấy đó, đây là một căn hộ tuyệt đẹp, rất xứng hợp cho một cặp vợ chồng, cảnh quang nhìn từ các cửa sổ mặt tiền cũng như các cửa sổ phía sau thật là ngoạn mục.
John Kragopoulos hỏi Courtney Parrish:
– Anh quan tâm đến thiên văn?
– Không hẳn. Tại sao?
– Chỉ vì tôi thấy ở đây có cái ống viễn kính rất hiện đại này.
Quả là muộn màng khi Parrish nhận thấy rằng cái ống viễn kính đang hướng về ngôi nhà Eldredge. Thấy John Kragopoulos bước đến gần, y nhanh tay đẩy ống viễn kính hướng lên trên.
Y ngắn gọn giải thích:
– Tôi thích quan sát các vì sao.
John Kragopoulos áp mắt vào ống ngắm rồi thốt lên:
– Tuyệt thật… quá tuyệt!
Ông nhẹ nhàng hướng ống viễn kính về vị trí trước đó của nó. Rồi, nhận thấy vẻ khó chịu của Parrish, ông rời ống ngắm và quan sát căn phòng.
Ông nói, chủ ý để Dorothy nghe:
– Căn hộ này được bố trí rất tốt.
– Tôi luôn cảm thấy thư thái khi sống ở đây. – Parrish nói.
Thật ra y đang nguyền rủa chính mình. Một lần nữa, y đã phản ứng một cách vội vã, đáng để nghi ngờ. Một lần nữa mình mẩy lại nhễ nhại mồ hôi. Y tự hỏi không biết mình có còn sơ sót một điều gì nữa? Liệu y có để sót một vết tích nào của hai đứa bé? Y đảo nhanh mắt quanh phòng. Không thấy gì khả nghi.
Dorothy nói:
– Nếu không gì bất tiện, xin ông cho phép chúng tôi được xem qua phòng ngủ và phòng tắm.
– Vâng, quý vị cứ việc.
Lúc nãy, y đã trải lại khăn phủ giường và nhét hộp phấn talc vào hộc tủ nhỏ đầu giường.
– Phòng tắm ở đây rộng tương đương với phòng ngủ của một ngôi nhà hiện đại – Dorothy nói với John Kragopoulos. Rồi trông thấy cái bồn tắm đầy nước, bà thốt lên – Ồ, tôi bậy thật! Chúng tôi quấy rầy ông khi ông đang chuẩn bị tắm.
– Tôi không có thời gian để chờ đợi! – Parrish đáp với thái độ cho thấy y đang bực mình.
John Kragopoulos đi lùi ra khỏi phòng tắm. Ông biết rằng ông đang làm Parrish khó chịu và việc để đầy nước bồn tắm là cách thức thô thiển nhất để buộc Dorothy và ông phải hiểu điều đó. Ông thắc mắc, nhưng sao lại có con vịt bằng cao su trong bồn tắm. Một món đồ chơi của trẻ nít. John Kragopoulos trề môi khinh tởm. Ông đưa tay vuốt nhẹ lên cánh cửa tủ hốc tường, tò mò trước vẻ trơn bóng của gỗ. Ông biết mình có trực giác bén nhạy trong kinh doanh và trực giác này cho biết ông nên đầu tư vào ngôi nhà này. Văn phòng địa ốc kêu giá ba trăm năm chục ngàn đô-la… ông sẽ trả hai trăm chín chục ngàn và nếu cần sẽ lên đến ba trăm hai chục. Với giá đó, ông chắc sẽ làm chủ ngôi nhà tuyệt đẹp này.
Sau khi đã âm thầm quyết định, John Kragopoulos quan sát căn hộ với sự quan tâm của một chủ nhân.
Ông nói:
– Tôi mở cái tủ hốc tường này được chứ?
Đó là câu hỏi chiếu lệ vì ông ta đã cầm lấy nắm cửa tủ.
Parrish lắc đầu:
– Rất tiếc, tôi đã thay ổ khóa và không nhớ để chìa khóa ở đâu. Ông có thể xem cái tủ hốc tường kia, nó cũng tương tự như cái này.
Dorothy xem xét cái nắm cửa tủ và ổ khóa mới; chỉ là thứ hàng ngũ kim loại, rẽ tiền.
Bà nói:
– Tôi hy vọng anh còn giữ cái nắm cửa trước đây. Mọi nắm cửa ở đây đều được đúc bằng đồng khối.
– Vâng, tôi còn giữ. Chỉ cần kêu thợ đến gắn là xong.
Y thầm nghĩ, liệu con mụ này có khăng khăng đòi mở tủ cho bằng được? Nếu cái ổ khóa mới không đủ sức chịu đựng? Nếu nó bung ra khỏi khung gỗ? Hoặc nếu nó tự động bung ra thì sao?
Dorothy không nằn nì thêm. Bà thấy chuyện đó chẳng có gì là quan trọng và chút bực tức của bà đã nhanh chóng biến mất.
Parrish phải cắn môi, cố đèn nén nỗi ao ước tống xuất con mụ địa ốc và thân chủ của mụ ra khỏi nhà. Y tự hỏi, không biết đã bịt miệng lũ nhóc kỹ chưa? Liệu chúng có nghe giọng nói quen thuộc và cố tìm cách gây ra tiếng động? Phải đưa hai người này ra khỏi đây nhanh mới được.
Nhưng Dorothy cũng muốn rời khỏi đây. Bà thấy trong căn hộ này phảng phất một cái mùi khá quen thuộc – một mùi thơm làm bà rất nhớ Missy.
Bà quay sang nói với John Kragopoulos:
– Nếu anh muốn, chúng ta có thể ra về.
– Vâng. Ta đi thôi.
Lần này, John Kragopoulos không bắt tay Parrish khi rời căn hộ. Bước ra theo John Kragopoulos, Dorothy quay đầu lại, nói vội:
– Xin cám ơn ông Parrish. Tôi sẽ cho ông biết tin sau.
Dorothy và John Kragopoulos lặng lẽ xuống cầu thang rồi ngang qua nhà bếp. Khi mở cánh cửa sau nhà, Dorothy mới thấy rõ sự chính xác của bản thông báo về thời tiết. Sức gió đã gia tăng nhiều trong khi họ tham quan ngôi nhà.
Dorothy nói:
– Chúng ta phải chạy nhanh về nhà xe.
Vẻ đăm chiêu, John Kragopoulos gật đầu và nắm lấy cánh tay Dorothy với những loạt gió đang quất mạnh tuyết tan vào mặt, họ chạy nhanh vì không thấy cần phải men theo tường nhà nữa.
Vào đến nhà xe, Dorothy đi vào giữa chiếc Buick và chiếc xe của Parrish để mở cửa xe. Trong khi khom người ngồi xuống trên băng ghế phía sau tay lái, bà liếc nhìn xuống và trông thấy một mẩu vải đỏ trên nền nhà xe. Bà ra khỏi xe, cúi lượm mẩu vải và ngả người xuống băng ghế xe, áp mẩu vải lên má.
Trông thấy thái độ lạ thường của Dorothy, John Kragopoulos lo lắng hỏi:
– Có chuyện gì thế, thưa bà Prentiss?
– Đúng là cái bao tay! – Dorothy thốt lên – Bao tay của Missy! Hôm qua, khi tôi đưa Missy đi ăn kem thì cháu mang cái bao tay này. Missy hẳn đã làm rơi nó trên xe và lúc nãy, có lẽ nó đã vướng vào giày tôi và rơi xuống đất khi tôi rời xe. Missy vẫn thường đánh rơi bao tay. Sáng nay người đã tìm thấy một cái cùng cặp với cái này ở nơi cái đu.
Dorothy nức nở khóc – những tiếng nấc khô khốc mà bà rán nén bằng cách áp cái bao tay lên miệng.
John Kragopoulos dịu dàng nói:
– Tôi không biết nói gì hơn. Tôi chỉ biết tin rằng có một Thượng đế đầy thương yêu và từ tâm, biết xót thương trước nỗi khổ của ta và trước nỗi tuyệt vọng của các bậc làm cha mẹ. Ngài sẽ không bỏ rơi ta. Tôi tin chắc như thế. Bây giờ, xin chị vui lòng để tôi cầm lái cho.
– Vâng. – Dorothy nói, giọng nghẹn ngào. Bà nhích người sang ghế bên.
Bà nhét cái bao tay vào túi áo, thầm nghĩ không nên để Ray và Nancy trông thấy nó. Bà tưởng chừng đang trông thấy Missy cởi cái bao tay để ăn kem. Mới hôm qua đây thôi! Tội nghiệp hai đứa bé!
John Kragopoulos cảm thấy thích thú khi được cầm lái. Lúc nãy khi ở trong căn hộ đó, ông cảm thấy bồn chồn khó chịu. Có cái gì đó nhầy nhụa, nhờm tởm, toát ra từ con người Parrish. Đã vậy, lại có cái mùi phấn talc dành cho con nít thoang thoảng trong phòng, và món đồ chơi lạ lùng thả trong bồn tắm. Ông thắc mắc chẳng hiểu tại sao một kẻ đã trưởng thành như Parrish lại cần những thứ đó?
Nép bên cửa sổ ở tầng ba, Parrish nhìn chiếc xe mất hút sau khúc quanh. Rồi, bằng bàn tay run rẩy y lấy chìa khóa ra khỏi túi và mở cái tủ hốc tường.
Thằng bé trai vẫn tỉnh. Nó nhìn y bằng đôi mắt mở lớn in đậm vẻ sợ hãi câm nín. Tay chân nó vẫn bị trói chặt và miệng bịt kín.
Parrish thô bạo đẩy nó sang một bên để nắm lấy con bé. Y nhấc tấm thân bé bỏng, mềm nhũn đó lên và đặt xuống giường. Rồi y gào lên một tiếng giận dữ, tuyệt vọng, khi trông thấy đôi mắt khép kín và khuôn mặt tái nhợt…

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.