Mùa Gặt

10.



Đó là tim lợn thôi, họ đã để vào xe đêm trước và bị thiêu nóng. Tôi vẫn không thể quên được cái mùi của nó.
– Gã đó định đe dọa tinh thần cô đó mà. – Vivian Chao nói. – Tôi đã nói rồi, cô phải chơi lại hắn.
Abby và Vivian đi qua cửa trước và tới thang máy. Hôm đó là chiều chủ nhật ở viện Massachusett, thang máy công cộng chật chội với một đám đông đầy bóng bay trên đầu. Cửa đóng lại.
– Chúng ta chẳng có bằng chứng nào cả. – Abby nói. – Thậm chí chúng ta còn chẳng biết có phải ông ta làm không nữa.
– Không ông ta thì ai, xem những gì ông ta đã làm đi. Kiện tụng, bêu riếu cô trước công chúng. Tôi đã nói với cô rồi DiMatteo, đến lúc đứng dậy rồi, phản công lại đi, hãy làm theo kiểu khủng bố ấy.
– Vấn đề là tôi hiểu tại sao ông ta làm vậy, ông ta bị tổn thương, vợ của ông ta đang trong giai đoạn nguy kịch.
– Tôi chẳng thấy có gì sai trái cả.
Abby thở dài.
– Tôi không thể không cảm thấy tội lỗi mỗi khi tôi đi qua giường bà ấy.
Họ bước ra khỏi thang máy đến tầng bốn và đi lên khoa tim.
– Ông ta có tiền để làm cô phải sống trong địa ngục – Vivian tiếp – Ông ta có một phiên tòa chống lại cô thì ông ta có thể sẽ làm thế thêm vài lần nữa.
– Tôi nghĩ đúng đấy. Sở vừa thông báo cho tôi là họ có thêm sáu đơn kiện nữa từ hãng luật đại diện cho Terrio.
Vivian ngừng lại và nhìn cô chằm chằm.
– Lạy Chúa, cô sẽ ra tòa cả cuộc đời còn lại sao?
– Hoặc là tôi sẽ nghỉ việc, như bác sĩ ấy.
Vivian lại đi tiếp, cô cảm thấy bực bội hơn bao giờ hết, tính cách châu Á Amazon của cô trỗi dậy, sợ hãi mơ hồ.
– Sao mà cô không phản ứng lại chứ? – Abby hỏi.
– Tôi cũng đã cố nhưng gã đó là Victor Voss, khi tôi đề cập cái tên đó với luật sư của tôi, cô ta sợ tái mặt, điều hiếm thấy với một luật sư da đen.
– Cô ta khuyên cô thế nào?
– Là biến khỏi mớ bòng bong đó. Cô ta bảo tôi may mắn vì là một bác sĩ uy tín và kinh nghiệm, ít nhất tôi cũng tìm thấy một công việc khác, hoặc phòng khám của riêng mình.
– Voss làm cô ta sợ thế à?
– Cô ta không thừa nhận nhưng đúng thế. Ông ta làm nhiều người sợ hãi, tôi không có gì để chống lại ông ta cả. Tôi phải chịu trách nhiệm, chúng ta đã đánh cắp trái tim đó, không thể phủ nhận. Nếu không phải là Voss mà là người khác cũng vậy thôi. Giờ tôi đang trả giá đây.
Vivian nhìn Abby.
– Nhưng không kinh khủng như những gì cô phải chịu đựng.
– Ít nhất tôi cũng còn có công việc để làm.
– Trong bao lâu? Cô mới chỉ năm thứ hai. Cô phải bật lại đi. Đừng để ông ta hủy hoại cô, cô là một bác sĩ giỏi, không đáng bị như vậy.
Abby lắc đầu.
– Đôi khi tôi tự hỏi có đáng không?
– Có đáng không ư?
Vivian dừng bên ngoài phòng 417.
– Nhìn xem và nói cho tôi biết nhé.
Cô gõ cửa và bước vào phòng.
Một cậu bé đang ngồi trên giường với điều khiển TV. Nếu không phải cái mũ của đội Red Sox thì Abby không thể nhận ra đó là Josh O’Day, đã hồng hào đầy sức sống.
Khi nhìn thấy Vivian, cậu định ôm lấy cô.
– Bác sĩ Chao. Cháu tự hỏi liệu bác sĩ có định đến thăm cháu hay không.
– Cô chỉ đi ngang qua thôi. Hai lần nhưng cháu đang ngủ. – Cô lắc đầu ngán ngẩm. – Một cậu bé lười biếng.
Cả hai cùng cười, một chút im lặng rồi Josh vòng tay muốn ôm lấy bác sĩ.
Vivian đứng yên một lúc, có lẽ cô chẳng biết phải nói gì. Rồi cô đột ngột tiến đến. Cái ôm rất chặt.
– Vậy cháu thế nào?
– Rất tốt, cô thấy không?
Nó chỉ vào màn hình TV.
– Bố cháu mua cho cháu những băng này nhưng cháu không biết làm sao để bật băng video. Cô có biết không?
– Chắc cô sẽ vứt cả TV đi.
– Vì cô là bác sĩ?
– Thôi được. Lần tới nếu cháu cần thì hãy gọi một người sửa TV nhé.
Vivian hướng về Abby.
– Cháu nhớ bác sĩ DiMatteo chứ?
Josh nhìn Abby lạ lẫm.
– Cháu nghĩ thế, ý cháu là… Cháu quên vài thứ, cô biết đấy. Những gì xảy ra tuần trước, cháu gần như bất tỉnh hay đại loại thế.
– Không việc gì phải lo lắng cả, khi trái tim ngừng đập, máu không đủ lên não nên cháu có thể quên vài thứ.
Cô chạm vào vai thằng bé, đó không phải là việc Vivian thường làm. Nhưng cô đang muốn kết nối với thằng bé.
– Ít nhất cháu không quên cô. – Cô nói và cười. – Dù cháu cố gắng quên.
Josh nhìn xuống ga trải giường, nhẹ nhàng nói.
– Cháu không muốn quên bác sĩ.
Không ai nói gì một lát, dường như họ hơi bối rối. Vivian vẫn đặt tay lên vai cậu bé. Cậu bé nhìn xuống, mặt giấu sau chiếc mũ.
Abby quay nhìn đi chỗ khác, mọi thứ vẫn còn nguyên ở đó: ruy băng và khẩu hiệu, không phải cho một cậu bé sắp chết mà là kỷ niệm cuộc sống, sự hồi sinh.
Có tiếng gõ cửa rồi một người phụ nữ gọi:
– Joshie?
– Ôi, mẹ!
Cửa và văn phòng tràn ngập bởi bố mẹ, anh em họ hàng, cô dì chú bác của Josh.
Đi cùng với họ là cả một rừng bóng bay và mùi đồ McDonald. Họ vây quanh giường của Josh, ôm hôn và xuýt xoa.
– Xem này, trông cháu tuyệt quá.
Josh quá bận rộn với họ hàng mà không phát hiện ra Vivian đã rời khỏi căn phòng lúc nào.
– Josh, con yêu, con xem chú Harry ở Newbury này. Chú biết mọi thứ về máy móc ghi băng đấy, đúng không Harry?
– Ồ, tất nhiên rồi.
– Có mang theo dây đấy chứ Harry?
– Chị nghĩ em quên chắc?
– Xem này Josh, cả một thùng gà rán. Ăn được không, bác sĩ Tarasoff không nói là con không được ăn đồ rán.
– Mẹ, chúng ta quên camera rồi. Phải chụp cái sẹo của Josh nữa chứ.
– Mẹ không muốn.
– Nhưng thầy giáo nói rất tuyệt đấy.
– Thầy giáo con già rồi. Không chụp ảnh sẹo, cái đó là riêng tư mà.
– Này Josh, có cần giúp ăn con gà này không?
– Harry, được không?
– Tôi không biết, cái TV này cũ quá.
Vivian cố gắng lách tới chỗ Abby đang đứng, một tiếng gõ cửa nữa và lại một đám họ hàng khác, với hàng loạt tiếng xuýt xoa:
– Trông nó tuyệt quá.
Qua đám đông nhà O’Day, Abby nhìn thấy ánh mắt của Josh, nó đang dõi theo họ và mỉm cười vô vọng, nó vẫy tay.
Abby và Vivian rời phòng trong im lặng, họ đứng ở hành lang, nghe những âm thanh lọt ra từ căn phòng.
Vivian nói:
– Vậy đấy, Abby. Câu trả lời cho câu hỏi “có đáng không” của cô là đây.
Ở bàn y tá, họ đề nghị được nói chuyện với Tarasoff. Người thu ngân gợi ý cho họ đến phòng trà và đó chính xác là chỗ họ tìm thấy Tarasoff đang uống cà phê. Với cái kính chúc xuống và áo jacket, trông Tarasoff giống một quý ông người Anh hơn là một bác sĩ phẫu thuật tim.
– Chúng tôi vừa vào thăm Josh. – Vivian nói.
Tarasoff nhìn lên.
– Và cô nghĩ sao, bác sĩ Chao?
– Tôi nghĩ bác sĩ làm tuyệt thật, đứa trẻ trông đầy sức sống.
– Nó hơi bị đãng trí một chút, nhưng bọn trẻ vẫn vậy mà. Một tuần nữa nó sẽ được ra viện nếu các y tá không đá nó ra sớm hơn.
Tarasoff gập bệnh án lại và nhìn Vivian, ông đang cười.
– Tôi còn có mẩu xương to hơn để đá với cô đấy, bác sĩ.
– Tôi à?
– Cô biết tôi đang nói gì. Một ca ghép khác ở Bayside, khi cô giao đứa trẻ cho chúng tôi, cô không nói toàn bộ câu chuyện. Sau đó tôi mới biết là tim đã được đặt cho người khác.
– Không hề, đây là sự hiến tặng tự nguyện.
Ông nhíu mày với Abby:
– Quản lý của cô, ông Parr và cả luật sư của Voss đã nói chi tiết với tôi.
Vivian và Abby nhìn nhau:
– Luật sư của Voss?
– Đúng thế.
Tarasoff nhìn Vivian.
– Cô định để tôi phải ra tòa đấy à?
– Tôi chỉ muốn cứu thằng bé.
– Cô đã không nói với tôi.
– Và bây giờ thằng bé vẫn sống và sống khỏe.
– Tôi chỉ nói điều này một lần thôi, đừng bao giờ lặp lại điều đó.
Vivian định nói gì đó nhưng cô nghĩ lại, rồi đáp lại bằng cái gật đầu trang trọng. Tính cách châu Á – đôi mắt cụp xuống và cái đầu hơi cúi.
Tarasoff không để bụng chuyện đó. Ông cho hành động của Vivian thật phiền, rồi đột ngột ông bật cười.
– Lẽ ra tôi phải đuổi cô khỏi Harvard khi tôi có cơ hội mới phải.
– Sẵn sàng chưa, đi nào!
Mark hét lên và xô bánh lái.
Mũi thuyền Nơi ẩn náu quay theo chiều gió lái con thuyền chao lên chao xuống.
Raj Mohandas chạy vội lên thuyền và bẻ lái. Với một tiếng oáp thật to, con Nơi ẩn náu tiến đến, làm những thùng đồ uống phía sau lắc lư.
– Abby, đi ngược gió đi! – Mark hét lên.
Abby đảo lại về phía cảng nơi cô thấy sự háo hức của cuộc sống. Những người kia và thuyền của họ thế nào nhỉ, cô tự hỏi cái gì làm họ hét lên như thế.
Tất cả bọn họ đang la hét, cả bốn người. Mark với Mohandas và cậu con trai mười tám tuổi Hank, và Pete Jaegly, bác sĩ nội trú năm thứ tư. Họ đang la hét vì cánh buồm cần căng hơn và đừng để lỡ luồng gió. Họ hét lên với con thuyền của Archer mang tên Mắt Đỏ đang vượt họ. Họ còn thường xuyên la hét với Abby. Cô được tham dự với vị trí rất lịch sự là vị trí đệm.
Cô phải phụ trách các bao tải cát. Khi họ hét lên là cô sẽ phải chạy sang bên kia và bỏ nó xuống. Những người đàn ông thì quá bận rộn la hét quanh những đôi giày đắt tiền.
– Lên đi, cố lên! Một chút nữa thôi!
Mohandas và Jaegly tiếp tục điệu nhảy trên boong.
– Tuyệt quá!
Nơi ẩn náu đang đi xuyên gió và hướng về phía cảng. Abby bò sang bên kia. Mohandas quay tời, những bắp cơ cánh tay nâu của anh ta rung lên theo mỗi nhịp quay.
– Nó đang vượt xa rồi! – Hank hét lên.
Đằng sau họ, Mắt Đỏ đang vượt lên quá chiều dài nửa thuyền rồi. Họ có thể nghe thấy Archer đang hò hét với đồng đội của mình.
– Cố lên, tiến lên!
Nơi ẩn náu xoay vòng vòng và bắt đầu đón gió. Jaegly đang vật lộn với cột buồm. Hank đang kéo trục xuống.
Abby đang vội vã leo sang bên kia.
Mark hét lên:
– Trời, nó đang ở đuôi bên phải chúng ta rồi kìa. Biến thứ quái quỉ này chạy nhanh lên thôi, tiến lên anh em!
Jaegly và Hank đang nâng cánh buồm lên, gió làm Nơi ẩn náu vụt lên.
– Đúng rồi đấy em yêu! – Mark hú lên. – Em yêu, em yêu, đi nào!
Jaegly liền kêu lên:
– Cái quái gì đang diễn ra thế nhỉ, nhìn xem?
Abby cố gắng ngóc đầu lên và nhìn lại về phía thuyền của Archer.
Mắt Đỏ không còn tham gia cuộc đua nữa, nó quay đầu về phía cảng.
– Họ đã bắt đầu dùng đầu máy rồi.
– Sao họ lại chịu thua nhỉ?
– Archer á? Không đời nào.
– Vậy sao họ quay lại nhỉ?
– Tôi nghĩ là chúng ta nên tìm hiểu lý do. Hạ buồm đi. – Mark khởi động động cơ. – Chúng ta cũng nên quay về thôi.
Tạ ơn chúa. Abby nghĩ thầm.
Cô thấy buồn nôn khi động cơ chạy. Mắt Đỏ đã được buộc vào cầu cảng và các thủy thủ của nó đang bận rộn gập buồm và cột dây.
Mark hét lên khi họ vượt qua Mắt Đỏ.
– Chào Mắt Đỏ. Chuyện quỷ quái gì thế?
Archer giơ điện thoại lên.
– Điện thoại từ Marilee. Cô ta bảo chúng ta quay vào, có chuyện gì đó nghiêm trọng lắm, cô ta đang đợi chúng ta ở câu lạc bộ.
– Thôi được, vậy gặp anh ở quán bar nhé.
Mark nói với Archer và quay lại nhìn các thủy thủ.
– Cột thuyền lại thôi, chúng ta đi uống cái gì đó rồi lại ra khơi.
– Anh sẽ phải làm việc đó mà không có đệm của anh đâu. Em sẽ nhảy ra khỏi thuyền.
Mark nhìn cô ngạc nhiên.
– Thật vậy sao?
– Anh không thấy em cứ phải lơ lửng trên không đó à? Em không thích cảnh đó đâu.
– Tội nghiệp Abby, anh sẽ đền bù cho em, được chưa, hứa mà: sâm panh, hoa, tiệm ăn em thích.
– Chỉ cần để em ra khỏi con thuyền dở hơi này.
Vừa cười, Mark vừa lái con thuyền về bến cảng.
– Ôi, người yêu của tôi.
Khi Nơi ẩn náu được cập bến gần đồng đội của mình, Mohandas và Hank bước lên rồi nhanh chóng cột nó vào. Abby nhảy ra khỏi thuyền ngay lập tức.
– Cứ cột nó tạm thời vậy thôi cho đến khi ta hiểu chuyện gì xảy ra với Archer. – Mark bảo.
– Có khi anh ta đã bắt đầu bữa tiệc rồi đấy. – Mohandas thêm vào.
Ôi Chúa ơi, Abby nghĩ khi cô cùng Mark đi vào quán, tay Mark quàng qua vai cô. Rất nhiều người đang tập trung ở đó, những người đàn ông rám nắng cùng với rượu gin và tonics, họ mặc áo cổ lọ và đang cười phá lên.
Họ đi vào phía trong câu lạc bộ. Điều đầu tiên Abby thấy là một sự im lặng bao trùm, cô thấy Marilee đang đứng ở quầy bar với đồ uống trong tay. Archer đang ngồi cạnh cô ta, không đồ uống, chỉ có một tờ báo trải ra trước mặt.
Các thủy thủ của Mắt Đỏ tập trung quanh căn phòng, im lặng, không ai đi lại. Âm thanh duy nhất trong căn phòng là tiếng đá va vào nhau trong cốc của Marilee khi cô đưa cốc lên môi, nhấp một hơi và đặt nó lại bàn.
Mark hỏi:
– Có chuyện gì vậy?
Marilee nhìn lên và chớp mắt như thể thấy Mark lần đầu. Khi cô quay lại với cái ly của mình, cô uống và nói:
– Họ tìm thấy Aaron.
Chỉ có xương Stryker bị nghiền mới có cái mùi đó, thứ mùi thật kinh khủng.
Thám tử Bernard Katzka nhìn một lượt quanh bàn và nhìn Lundquist, cộng sự trẻ của anh đang đứng chênh chếch bên bàn, bàn tay đeo găng đang bịt miệng và mũi, bộ dạng điển trai như diễn viên phim của anh ta chuyển sang kiểu buồn nôn. Lundquist vẫn chưa xem tới bụng, hầu hết các cảnh sát sẽ làm vậy. Cắt mổ xác chết để khám nghiệm không phải là món ưa thích của Katzka, đã nhiều năm nay anh rèn luyện bản thân mình để xem công đoạn đó như một bài tập tư duy, tập trung vào nội tạng của nạn nhân chứ không tập trung vào tính nhân đạo. Anh đã nhìn cảnh người bị rạn, hay cơ thể tan nát trên vỉa hè sau khi rơi thẳng từ tầng hai mươi xuống, cơ thể bị bắn nát hay nổ tung, xác người bị phân hủy. Ngoại trừ trẻ em luôn làm anh cảm thấy bị tổn thương còn thì cơ thể ai cũng như nhau trên bàn mổ, cơ thể bị phanh ra, xét nghiệm hay chụp chiếu. Xem xét những cơ thể đó thực sự là cơn ác mộng.
Bernard Katzka, bốn mươi tư tuổi và góa vợ. Ba năm trước anh đã nhìn thấy vợ mình chết vì bệnh ung thư, từ đó anh luôn sống trong những cơn ác mộng tồi tệ nhất.
Anh đang tập trung vào cơ thể con người kia đã được mổ ra. Nạn nhân là một người năm mươi tư tuổi, da trắng, đã có gia đình với hai đứa con học đại học, một chuyên gia ngành tim học.
Nhân dạng của anh ta đã được xác định bởi vân tay và thẻ chứng minh nhân dân cung cấp từ vợ anh ta. Việc khám nghiệm thực sự kinh khủng với cô ấy. Còn gì kinh hoàng hơn nhìn thấy người mình yêu thương bị phanh ra, nhất là khi con người đó còn bị treo cổ cách đây hai ngày trong căn phòng kín không được thông gió, cảnh tượng đó thực sự không thể chịu được.
Người đàn ông được tìm thấy chết nhợt nhạt gần nhà xác.
Katzka còn băn khoăn nữa khi nhìn xuống cái xác của Aaron. Khuôn mặt trắng bệch không máu, nguồn máu lên đầu bị chặn bởi cái dây lưng thắt chặt quanh cổ. Lưỡi anh ta thè ra đen ngòm thật đáng sợ, bị phân hủy sau hai ngày. Mắt anh ta đỏ ngầu. Dưới cổ, chỗ dây thắt lưng buộc, hằn một vết sâu. Tay và chân buông thõng với làn da không màu như bị xuất huyết não, có những chấm đỏ li ti gọi là các nốt Tardieu. Tất cả những cái đó chỉ ra nạn nhân chết do bị treo cổ. Có một vết thương ẩn, bên cạnh những dấu quanh cổ, một vết bằng đồng xu bên vai trái anh ta.
Bác sĩ Rowbotham và trợ lý, cả hai đều bịt mặt, đeo găng tay và mặc quần áo bảo hộ. Họ hoàn thiện với một đường cắt ở tĩnh mạch cùng vai ngực.
Đó là một đường chữ Y với những đường cắt từ vai và kết thúc ở xương ức, sau đó là một đường cắt dọc xuống mu. Rowbotham đã có ba mươi hai năm trong nghề phẫu thuật tử thi, ít có điều gì làm ông ta ngạc nhiên hay thích thú. Nếu có gì đó, thì ông ta sẽ nhìn với vẻ hơi chán nản khi cắt vào xác chết. Trông ông ta hơi độc tài khi đứng một chân bên trên một chân bên dưới bàn đạp. Giờ thì ông ta đang đi qua xương ức và xương ngực, chuẩn bị mổ khoang bụng.
– Xem này, Sên Mập.
Ông ta nói với Katzka, Sên Mập là nick name ông ta đặt cho Katzka mà chẳng ăn nhập gì với ngoại hình của anh ta vốn bình thường về mọi phía. Có lẽ đó là sự phản ánh bản chất không dễ thay đổi của anh. Nếu một cộng sự trêu anh ta vào thứ hai, anh sẽ trả đũa vào thứ sáu, nhưng chỉ khi anh bị chơi khăm thôi.
Katzka đang chúi xuống phía trước để xem khoang ngực, mặt anh cũng vô cảm như Rowbotham.
– Tôi chẳng thấy gì không bình thường cả.
– Chính xác, có thể chỉ là một vấn đề nhỏ về tiêu hóa thôi. Nhưng tất cả đều khớp với việc bị ngạt.
– Vậy tôi nghĩ chúng ta biến khỏi đây thôi, nhỉ. – Lundquist nói, anh ta đã rời khỏi bàn, tránh xa thứ mùi kinh sợ đó. Anh ta cũng giống hệt những gã trẻ tuổi khác, háo hức đốt cháy giai đoạn, muốn lao mình vào khó khăn. Tự tử bằng treo cổ không phải là vụ anh muốn nhúng tay vào.
Katzka không rời khỏi bàn.
– Chúng ta thực sự muốn xem hết vụ này hả Sên? – Lundquist hỏi.
– Họ vừa mới bắt đầu mà.
– Chỉ là tự tử thôi.
– Vụ này làm tôi thấy lạ đấy.
– Mọi dấu hiệu đều quen thuộc. Anh nghe thấy rồi đấy.
– Anh ta ra khỏi nhà vào ban đêm, mặc quần áo, leo lên xe. Nghĩ đi, ra khỏi cái giường ấm áp của anh để leo lên tầng thượng bệnh viện à?
Lundquist nhìn cái xác rồi nhanh chóng quay qua chỗ khác.
Giờ thì Rowbotham và trợ lý của anh ta đã mở khí quản, đang cắt rời tim và phổi. Rowbotham đặt chúng vào khay đang treo, nó lắc vài cái rồi trĩu xuống dưới sức nặng của nội tạng.
– Đây là cơ hội hiếm có để thấy đấy. – Dao mổ của Rowbotham giờ đang ở lá lách.
– Chúng ta dừng ở đây, đám tang tổ chức được rồi, gọi gia đình đi.
– Có lý do gì đặc biệt không? – Lundquist hỏi thêm.
Rowbotham nhún vai.
– Anh ta có hàng trăm cách để tự giết mình.
– Liệu có khả năng anh ta dùng thuốc và bị bất tỉnh trước khi bị treo cổ không?
– Chúng tôi đã xét nghiệm rồi, để làm anh hài lòng đấy.
Lundquist cười.
– Và chúng ta phải làm cho Sên hạnh phúc.
Anh ta rời khỏi bàn.
– Bốn giờ rồi, anh đi chứ, Sên?
– Tôi muốn xem nốt phần cổ.
– Cái quái gì xảy ra với anh vậy Sên? Tôi đã nói chúng ta chỉ cần tuyên bố là vụ tự tử và biến.
– Tôi sẽ đi, ngoại trừ ánh sáng.
– Ánh sáng nào? Rowbotham hỏi, mắt anh ta nhìn vị thám tử thích thú.
Lundquist nói:
– Sên bị treo lên với những bóng đèn ở căn phòng đó rồi.
– Bác sĩ Levi được tìm thấy đã chết trong một căn phòng cho bệnh nhân không dùng tới. Người lao công tìm thấy anh ta khi đèn được tắt hết.
– Tiếp đi – Rowbotham nói.
– Vào lúc anh ta chết, theo chúng ta phán đoán… thì vào khoảng sáng sớm thứ bảy, tức là trước khi mặt trời mọc. Có nghĩa là ông ta sẽ treo cổ trong bóng tối. Hay là có ai đó tắt hết đèn?
– Có thể người lao công quên, không nhớ ra cái quỉ quái gì đã chứng kiến. – Lundquist phân tích. – Người lao công đổ máng vào toilet. Anh nghĩ anh ta nhớ đèn bật hay tắt à?
– Chỉ là chi tiết đó làm tôi lưu tâm thôi.
Lundquist cười.
– Đừng có làm phiền tôi. – Anh ta ném găng tay vào thùng đồ giặt.
Đã gần sáu giờ sáng khi Katzka đỗ chiếc Volvo của mình trong bãi đỗ xe ở Bayside. Anh đi bộ vào sảnh và ấn thang máy lên tầng mười ba. Anh chỉ có thể lên đến tầng đó mà không cần chìa khóa thôi. Anh sẽ phải ra khỏi thang máy và leo lên cầu thang khẩn cấp để lên tầng thượng.
Điều đầu tiên anh nhìn thấy là sự vắng lặng, cảm giác trống trải. Cả tháng rồi khu vực này được rào để trùng tu. Chẳng có công nhân nào đến hôm nay nhưng máy móc khắp nơi, không khí vẩn mùi bụi và sơn và cái gì đó nữa – thứ mùi anh ta thấy ở nhà xác – mùi chết chóc, mục ruỗng. Anh đi qua cái thang và rẽ vào một góc.
Nửa đường đến lan can, anh thấy một miếng băng dính vàng của cảnh sát treo lơ lửng ở lối vào. Anh kéo miếng băng dính và dán nó lên cửa.
Trong căn phòng này, việc sửa chữa đã hoàn tất: tường mới, các cabin mới và cửa sổ sát mái để nhìn toàn cảnh thành phố. Một bệnh viện sang trọng cho những vị khách đặc biệt với cái ví không đáy.
Anh đi vào nhà tắm và bật công tắc trên tường. Còn xa xỉ hơn bên ngoài, một cái chậu đá hoa, bồn tắm bằng đồng, một gương trang điểm, toilet như ngai vàng. Anh tắt điện và đi ra khỏi nhà tắm.
Anh đi vào nhà vệ sinh.
Đây là nơi Aaron Levi được tìm thấy. Một phần đuôi của thắt lưng được buộc vào chốt, phần kia buộc quanh cổ Aaron. Có thể anh ta khom người làm cho cái thắt lưng xiết chặt vào cổ, ngăn máu chảy lên não. Nếu anh ta thay đổi quyết định vào phút chót, tất cả những gì anh ta cần làm là đặt chân xuống nền, đứng lên và nới lỏng cái dây nhưng anh ta đã không làm thế, anh ta treo mình khoảng năm đến mười giây và đủ để không còn tỉnh táo nữa.
Ba mươi sáu giờ sau, một chiều chủ nhật, một lao công vào phòng này và dọn dẹp nhà tắm, anh ta không định thấy cái xác chết.
Katzka nhìn ra cửa sổ, anh đang đứng trên thành phố Boston. Liệu Aaron có làm gì sai trong cuộc sống của anh ta không nhỉ?
Một bác sĩ tim mạch, một cô vợ, một ngôi nhà đẹp, một chiếc Lexus, hai đứa trẻ đã lớn, một phút không dùng lý trí, Katzka cảm thấy tiếc cho Aaron và ghen tị với anh ta. Anh chẳng biết quái gì đến thất vọng và suy sụp. Điều gì khiến anh ta chấm dứt cuộc sống? Đồ hèn nhát.
Katzka quay lưng lại cửa sổ, đóng sầm nó lại với sự tức giận. Anh kinh tởm những kẻ chán sống, chọn cách đó để kết liễu cuộc đời. Tại sao lại kết thúc? Tại sao lại treo mình cô đơn trong căn phòng mà phải nhiều ngày sau người ta mới tìm thấy?
Có rất nhiều cách để tự sát, Aaron là một bác sĩ, hẳn anh biết cách dùng narcotin, cả đống thuốc khác có thể giúp chết nếu quá liều. Katzka biết chính xác cần bao nhiêu phenobard thì có thể chết. Anh cũng đã từng một lần dễ dàng với mình, anh đã đếm chính xác số viên thuốc, sau đó là xem mình cân nặng bao nhiêu. Anh đã để nó lên bàn trong phòng ăn và nghĩ đến những điều gì đang chờ đợi. Kết thúc những ngày tháng đau khổ vô vọng. Một cách dễ dàng nhưng anh không thể chối bỏ mọi việc, những sự kiện diễn ra theo trình tự. Nhưng anh không làm vậy, anh có quá nhiều trách nhiệm, đầu tiên phải lo cho đám tang của Annie, trả các hóa đơn bệnh viện của cô ấy. Rồi thì có một phiên tòa cần có lời khai của anh, sau đó là một vụ tự sát ở Roxbury, sau đó thì hoàn tất trả tám cái xe, rồi ba vụ tự sát ở Brookline, rồi lại một phiên tòa khác.
Cuối cùng, Katzka quá bận rộn để giết bản thân.
Bây giờ thì ba năm qua rồi, Annie được chôn cất xong xuôi và những viên thuốc bị phân hủy cả rồi. Thỉnh thoảng anh vẫn nghĩ tới những viên thuốc trên bàn nhưng anh ta tự hỏi sao mình lại nghĩ vậy. Anh chưa bao giờ tiến đến gần cái gọi là đầu hàng và anh không hề đồng cảm với Ốc Sên của ba năm trước. Anh cũng chẳng cảm thông cho ai dốc cả chai thuốc vào miệng để tự giết mình.
Và lý do của anh là gì?
Anh lại nhìn xuống Boston, anh nghĩ về những giờ phút cuối cùng của Aaron. Anh cố tưởng tượng ra cảnh Levi chui ra khỏi giường đêm hôm đó, lái xe đến bệnh viện và vào thang máy lên tầng mười ba, rồi đi bộ lên tầng mười bốn, vào phòng này, buộc thắt lưng lên trên móc và treo cổ.
Katzka nhíu mày.
Anh đi qua công tắc đèn và bật nó lên. Đèn sáng. Chúng vẫn làm việc tốt mà sao họ phải tắt đi nhỉ? Aaron hay người lao công?
Hay còn ai đó khác.
Các chi tiết. Katzka nghĩ, các chi tiết làm anh phát điên.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.