Bí Mật Sau Bức Tường Đổ

CHƯƠNG 3 – MỘT HOA TIÊU KHIẾM NHÃ



Bẻ quặt tay lái rất gấp, tên hoa tiêu của chiếc ca nô quẹo gắt gần 180° và xả hết công suất, biến mất về miệt thượng nguồn.
– Ê! Khoan đã! Marion hét lên, giận dữ. Ông đã làm hư xuồng của chúng tôi rồi. Alice, dí theo đi! Đừng để lão chuồn mất.
Nhưng một vấn đề khác đang khiến Alice mắc kẹt. Vào lúc xảy ra cú va chạm mạnh, Bess, do bị mất thăng bằng, đã đập đầu vào mạn thuyền và bổ nhào xuống nước.
Không bỏ lỡ một giây nào, Alice tắt máy, định vị đích xác chỗ mà bạn mình đã chìm lỉm và nhảy tùm xuống. Dùng cánh tay trái kẹp cô bạn vào dưới nách, Alice bơi trở lại tàu, vươn dài cánh tay phải níu lấy mạn tàu và, với sự tiếp tay của Marion, lôi cô nàng Bess đang bất tỉnh nhân sự lên khoang ca nô.
– Liệu nó có bị… Marion run run hỏi, giọng nghẹn lại bởi nỗi lo lắng khôn tả.
Đúng lúc ấy, Bess mở hé mắt và bắt đầu húng hắng ho. Alice vỗ nhẹ vào lưng nó để giúp nó ọc hết nước sông mà nó đã nuốt phải.
– Em… thấy đỡ rồi, Bess nói, tiếng bị ngắt quãng giữa hai cái nấc cụt. Tàu của chúng ta…
Nó chiếu một cái nhìn lo ngại lên một lỗ hổng mở toác hoác trên sườn ca nô. Alice và Marion lúc này mới… tá hỏa tam tinh vì thấy nước sông đã tràn vào trong khoang với một tốc độ báo động.
– Tát nước ra đi, Marion, lẹ lên! Alice giục cuống lên.
Marion lấy lại cái lon đồ hộp lúc nãy đã dùng và vội vàng tát lấy tát để. Alice phóng về đằng mũi ca nô, vo tròn bóp bẹp nguyên một tờ báo ngày, mà may thay cô đã mang theo, và bít ngay vào lỗ thủng được chừng nào hay chừng nấy. Thoáng nhìn thấy trong một xó xỉnh, một mánh vải thô dùng để may bao bố, Alice liền cuộn tròn lại đắp thêm vào. Lát sau, mực nước trong khoang ca nô đã ổn định và không còn dâng cao thêm nữa.
– Phù! Marion thở hổn hển trong lúc ngồi rũ người xuống băng ghế. Nào, bây giờ chúng ta bắt đầu mở màn cuộc săn đuổi chiếc ca nô kia chứ?
Tiếc thay! Nó không còn trong tầm nhìn nữa và Alice đã có đủ khôn ngoan để từ bỏ việc cố bắt kịp một chiếc ca nô chẳng những đã dẫn trước quá xa mà công suất máy còn hơn hẳn chiếc xuống máy cổ lỗ sĩ của bộ ba nữ thám tử nghiệp dư.
– Bạn cảm thấy thế nào? Cô ân cần hỏi Bess.
– Không đến nỗi nào, nó đáp, chỉ có điều là… em thích về nhà.
– Chúng ta sẽ vòng về liền đây, Alice quyết định. – Bản thân mình cũng đang ướt như chuột đây nè, vả lại con tàu này cũng chẳng còn nổi trên sóng nước được bao lâư nữa đâu.
– Thật bực mình vì cái tay gây ra tai nạn cho chị em mình đã cao bay xa chạy mất rồi, Marion uất ức nghiến răng. Tớ mà tóm được nó thì,..
– Mà liệu cậu có nhận ra được nó không chứ? Alice hỏi.
Lúng túng, cô gái đầy nam tính ấy thú thực là mình đã không kịp nhận diện kẻ xấu và muốn biết là hai bạn mình có khá hơn mình trong việc ấy không. Alice trả lời:
– Mình đâu có đủ thời gian để ngắm kỹ dung nhan của hắn. Tuy vậy, mình tin chắc là, nếu có dịp mặt đối mặt với hắn lần nữa, mình sẽ nhận ra hắn ngay. Dù sao, mình sẽ cố hết sức để tìm lại bằng được, cả hắn lẫn con tàu của hắn.
Cả ba cô gái đều lo ngại về phản ứng của người chủ cho mướn ca nô, nào ngờ ông đã tỏ ra hết sức thông cảm.
– Các cô sẽ không hao tốn quá mười đô la đâu, ông ta tuyên bố. Tôi sẽ đích thân đảm nhận việc sửa chữa.
Alice hứa sẽ gửi đến ông số tiền ấy ngay khi về tới nhà.
– Cô nên dành thời giờ để truy lùng kẻ đã đụng vào các cô và khiến các cô phải bồi thường oan uổng thì hơn. Đồ lưu manh ba trợn, đã đụng phải tàu người ta rồi còn bỏ chạy không một lời xin lỗi nữa chứ!
Nản lòng vì cuộc dạo chơi xui xẻo và vô bổ ấy, cả ba lặng lẽ ai về nhà nấy. Hôm sau, Alice vẫn chả biết gì về lý lịch của tên hoa tiêu khiếm nhã dù đã uổng công tả lại hình dạng chiếc ca nô lao như tên bắn ấy cho nhiều người biết. Bỗng nhiên một ý tưởng xẹt qua đầu cô.
– Con sẽ đến gặp ông Ba Còn, Alice nói với vú Sarah, và thử chuyện trò với ông xem sao.
Alice ghé đón Bess đi cùng và lái xe về phía dòng sông. Khi lại gần kè đá, đôi bạn để ý thấy một kẻ lạ mặt, tóc nâu, mắt đen, đang tiến tới bên cầu tàu. Alice rất kinh ngạc trước vẻ bề ngoài của người ấy, giống như đúc với người đàn ông đã gây tai nạn cho tàu của bọn họ. Cô dừng lại và hỏi thẳng xem ông ta có phải là kẻ đã đụng nhằm mình hôm trước không.
– Không, đâu phải là tôi! Người đàn ông cự lại bằng giọng xấc xược. Tôi làm gì có thuyền bè nào đâu!
Và, nhìn hai cô gái bằng ánh mắt mất cảm tình, y hộc tốc rảo bước rời xa.
Cuộc gặp gỡ khó ưa này khiến Alice cảm thấy thất vọng và đã giữ thái độ yên lặng trên suốt lộ trình. Nhưng, khi xuống xe trước nơi đươc dùng làm chỗ ở của người thủy thủ già, cô đã lấy lại được sự hăng hái của mình. Cảnh quan nơi ấy thật thơ mộng, ông Ba Còn sống trên một chiếc du thuyền cũ kỹ, tuy không lớn lắm, nhưng cũng đã từng trải qua một thời vàng son. Hiện nay, nó chỉ còn là một xác tàu tiêu điều, bị nắng mưa biến thành tàn tạ héo hắt. Kỷ niệm duy nhất của vinh quang đã thành quá khứ của nó là một hiệu kỳ tả tơi bay phất phới đầy vẻ kiêu hãnh đằng cuối tàu.
– Có ai không? Alice lớn tiếng gọi.
– Vào đi, vào đi! Giọng nói sang sảng của người thủy thủ già đáp lại.
Ông đang ngồi trong cabin, hai chân gác lên mặt chiếc bàn gắn liền vào vách phòng và đang ăn món đậu Hà Lan đựng trong những lon đồ hộp thay cho chén đĩa. Vừa thấy bóng hai cô gái, ông liền đứng lên, hết sức hài lòng vì dược các cô ghé thăm.
– Quí hóa quá, bà con quí cô nương ơi! Ông nói, với niềm vui ngời lên trong ánh mắt xanh lơ của mình. Có điều là hai quí cô nương sẽ vỡ mộng mất thôi: hôm nay chẳng có ngao, sò, ốc, hến chi cả. Nhằm hôm già này lên cơn làm biếng làm nhác ấy mà.
– Hai đứa con không đến để mua ngao sò của ông đâu, ông Ba Còn ạ, Alice vừa nói vừa đảo một cái nhìn đầy vẻ quan tâm ra quanh mình.
Đây là lần đầu cô đặt chân lên một du thuyền. Cabin vừa nhỏ hẹp vừa bề bộn, nhưng sạch không chê vào đâu được. Giường nằm được sắp xếp gọn gàng và, phía bên trên, đặt trên một cái kệ, những vỏ sò ốc được bố trí rất mỹ quan.
– Tôi sưu tập chúng nó, người thủy thủ già nói khi bắt chợt tia nhìn của Alice. Chúng đến từ mọi vùng sông rộng biển dài trên khắp thế giới, thậm chí, từ những đáy sâu thăm thẳm của Thái Bình Dương nữa kia đấy.
Khập khiễng bước đến bên kệ, ông đụng ngón tay trỏ vào một vỏ sò to lớn khác thường.
– Con này là con… kềnh xì nái nhất trong loài sò nước ngọt, sống dưới đáy các sông hồ.
– Đẹp hết ý luôn! Hai cô gái trầm trồ khen ngợi.
Thấy rõ vẻ-quan tâm mà các nữ khách của mình công khai biểu lộ, ông già liền cao hứng khoe với họ những vỏ sò ốc khổng lồ khác, cái thì hình xoắn ốc, cái thì mỏng manh mà thanh tú, đến từ miền Đông Nam Á. Bỡ ngỡ trước tính đa dạng của bộ sưu tập quí hiếm, Alice hỏi xem phải chăng ông đã thu gom được những chủng loại khác nhau ấy trong quá trình bôn ba hải hồ nhiều năm qua.
– Ồ! Không phải đâu, người chuyên nghề đánh bắt ngao sò trả lời. Chính ông Trabert đã biếu không bộ sưu tập này cho tôi đấy chứ.
Nghe đến tên ấy, Alice giật nẩy mình.
– John Trabert ư? Cô vội hỏi.
– Không, Paul Trabert… thân phụ của John, ông Ba Còn cải chính. Ông ta đã cho không tôi mớ vỏ sò ốc này vào thời ông ta có một cơ sở sản xuất nút áo bằng xà cừ tọa lạc tại một nhánh sông, nằm cách đây một quãng về phía thượng nguồn.
Say mê với những gì họ vừa nghe được, Bess và Alice đều tò mò muốn biết rõ hơn.
– Cái ông Paul Trabert ấy sau này ra sao rồi ạ? Alice hỏi.
– Ông ta vốn là người Mỹ gốc Anh, đã trở về quê hương của mình, và qua đời ở đó lâu rồi.
Ông già ngừng để mồi lửa một ống vố bằng gỗ mun rồi nói tiếp:
– Chính John, con trai ông ấy, đã thừa kế tài sản của dòng họ Trabert và đã đến sinh sống trong tòa lâu đài.
– Ai là người đã xây dựng nên tòa lâu đài ấy ạ. Có phải thân phụ của John không? Bess thăm dò.
– Ôi chao! Ông già khẽ rên, rồi thả hồn theo các kỷ niệm xa xưa, một lúc mới nói tiếp: Lâu đài Trabert đã được kiến thiết theo hình ảnh một trong những tòa lâu đài đẹp nhất của họ ở bên ấy, tại nước Anh. Vườn tược hồi ấy đẹp tuyệt trần, ngắm hoài không biết chán. Đâu đâu cũng chỉ toàn những bức tường nhỏ bằng đá, những hoa và hoa, những giống cây leo và đủ loại thảo mộc quí hiếm, đến từ những chân trời góc biển khác nhau trên khắp thế giới.
Alice cảm thấy một nỗi thèm muốn càng lúc càng mãnh liệt được đến tham quan khu nhà nổi tiếng ấy.
– Ông cụ đã xây lâu đài của mình cách cơ sở sản xuất chưa đầy hai cây số về phía thượng nguồn của dòng sông, người ngư phủ già nói tiếp. Từ khi con trai ông cụ qua đời đến nay, chả ai còn bén mảng đến tòa lâu đài ấy nữa, hoặc lại gần hãng xưởng xưa kia, nằm ở ven bờ vụng sông Harpe.
– Vụng sông Harpe ư? Alice lặp lại. Vậy mà có kẻ đã đến rong chơi ở đó, chỉ mới hôm qua thôi đấy.
– Dạ, đúng thế, Bess nói hùa theo. Tụi con đã tận mắt nhìn thấy một chiếc canô phóng ra từ nhánh sông có tên gọi ấy. Nó đã tông nhằm tụi con và hất con té nhào xuống sông nữa mới tức chứ.
– Thế này thì lạ thật! Ông già nói lầu bầu trong miệng.
Alice liền thuật lại cho người thủy thủ già tai nạn đường sông mới xảy ra hôm qua. Hình ảnh mà cô miêu tả về người hoa tiêu không gợi nên một hồi ức nào nơi ông già, nhưng ông hứa sẽ thăm dò và báo cho hai cô biết tin ngay khi ông thu lượm được điều gì mới lạ.
Alice và Bess cám ơn ông và rời xa “ngôi nhà” độc đáo.
– Hay bọn mình thử đến dòm sơ qua tòa lâu đài Trabert liền bây giờ xem sao? Alice rủ rê.
– Hôm nay thì không được rồi, em bị kẹt công chuyện. Mai thì được, không chừng Marion có thể đi chung với chị em mình cũng nên.
Alice tán thành ý kiến ấy và hai người bạn gái chia tay nhau. Lúc Alice bước vào vườn hoa nhà mình, một bất ngờ thú vị đã đợi sẵn cô ở đó. Trong thời gian Sarah và cô vắng nhà, bốn cây hoa hồng đã “châu về hợp phố”, được trồng trở lại ngay ở chỗ cũ. Một sự kiểm tra chớp nhoáng đã xác minh với cô đó quả là những cây đã bị nhổ trộm của mình. Vài chiếc lá rũ mềm cho thấy là chúng đã “phê” do những lần bứng lên trồng lại liên tiếp. Nhưng chúng sẽ sớm phục hồi thôi.
– Chính nhỏ Roseline đã đem trả chúng về! Alice nói một mình. Mình thật hài lòng hết sức. Giả như đừng có thằng Jeddy Houkker ấy, thì con bé có đời nào mà lấy cắp của mình mấy cây này, mình dám chắc như vậy mà!
Alice đang cẩn thận chèn đất quanh mấy gốc cây thì ông luật sư Roy về tới. Cô liền bỏ ngang công việc và chạy xuống ga ra để gặp cha mình – một người đàn ông cao ráo, đẹp trai và rất lịch lãm.
– Chào cưng, ông nói với một nụ cười sung sướng. Vườn hoa của con… mạnh khỏe chứ?
– Hôm nay nó rất sung sức, ba ạ! Bốn cây hoa hồng của con đã “tự nguyện hồi hương” rồi.
Hai cha con sánh vai nhau bước vào nhà, vừa đi vừa chuyện trò vui vẻ. Alice thuật lại chuyện tai nạn đường sông, chuyện gia đình Fenimore và vụ “tuyệt tích giang hồ” của Floriane.
– À này, ba! Ba có quen biết gia đình Trabert không? Hãy nói con nghe về họ đi.
– Ba mới chỉ biết tiếng chứ chưa gặp họ con ạ. Suốt nhiều năm liền, cơ sở sản xuất của dòng họ ấy làm ăn rất phát đạt, sau đó họ đã buộc lòng phải đóng cửa hãng.
– Chuyện ấy thì con biết rồi. Nhưng còn chuyện liên quan đến tòa lâu đài thì ai đã tiếp quản bất động sản ấy sau khi John Trabert qua đời, hả ba?
– Hector Karoja, ba tin là vậy.
Trong một tia chớp xẹt, Alice thấy lại người khách hàng “xí ngầu” của bác Morimex.
– Đó là một bạn đồng nghiệp với ba à?
– Ừ, ông Roy trả lời cộc lốc, nhưng ba không mấy ưa ông ta. Ông ta có một cách diễn giải pháp luật mà ba nghe không lọt tai tí nào cả. Đó là một con người xảo quyệt, đầy tinh toán.
– Ba lý giải ra sao về chuyện ông ta bỏ mặc cho tòa lâu đài ấy rơi vào cảnh hoang tàn, đổ nát? Ba có thấy một lý do nào không?
– Một con số không tròn vo.
– Ba có tin là ông ta đã cố gắng hết sức để tìm lại Floriane không?
– Theo chỗ ba biết, thì có đấy. Vì lẽ gì ông ấy lại không làm thế chứ?
– Ba có quen biết gì cô ấy không?
– Ba đã nhiều lần xem cô ta múa. Ba rất ngưỡng mộ tài năng của cô ta, ông Roy đáp mà miệng nở một nụ cười tươi với những hồi ức của mình. Ba không hiểu nổi vì sao cô ta lại rút lui đúng vào thời điểm cô ta đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật.
– Cô ta đã không để lại một tung tích nào sau lưng mình cả, cô gái nhận xét.
– Quả là một vụ việc bí hiểm, ông Roy nói. Ông John Trabert đáng thương đã tuyệt vọng ghê gớm. Ba lúc nào cũng tự hỏi mình là…
– Là sao hở ba?
– Ờ, thì… thì ba thường có ý nghĩ rằng chính lâu đài Trabert là nơi ta phải tìm kiếm chìa khóa của vụ mất tích ấy. Ba chả có lý do nào để tin thế… tuy vậy có cái gì đó nhủ thầm với ba rằng ba không lầm.
– Con cũng có cảm giác hệt như ba vậy! Alice kêu lên, cực kỳ hớn hở. – Mà, hai người họ Roy cùng một lúc thì làm sao mà nhầm được, ba nhỉ? Ngày mai, con sẽ đến hạch hỏi những bức tường đổ nát ấy. Biết đâu chúng lại chẳng chịu giao nộp cho con bí mật của chúng!

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.