Cổ Phiếu Thường Lợi Nhuận Phi Thường

3. Nên mua gì? (1)



15 tiêu chí chọn cổ phiếu thường

Trong chương này tôi sẽ tổng kết 15 tiêu chí mà các nhà đầu tư cần lưu ý khi tham gia thị trường chứng khoán. Một công ty vẫn có thể là khoản đầu tư hiệu quả nếu nó hoàn toàn không đạt được một số rất ít trong các tiêu chí này. Tuy nhiên tôi không nghĩ khoản đầu tư nào không thỏa mãn nhiều tiêu chí trong số đó lại có thể là một khoản đầu tư đáng giá. Một số tiêu chí này liên quan đến các vấn đề về chính sách của công ty; số khác lại liên quan đến cách thực thi chính sách. Một số tiêu chí cần được kiểm chứng rộng rãi bằng các nguồn thông tin bên ngoài, số còn lại có thể trực tiếp thu thập thông tin từ nhân viên của công ty đang tìm hiểu. 15 tiêu chí đó là:

Tiêu chí 1. Liệu công ty có những sản phẩm và dịch vụ có đủ tiềm năng thị trường đủ lớn để tăng doanh thu ít nhất trong vài năm tới không?

Không phải là không có cách nào để kiếm lợi nhuận một lần từ những công ty mà đường doanh thu không tăng, thậm chí đi xuống. Kết quả hoạt động kinh doanh thu được từ việc kiểm soát tốt chi phí có thể tạo ra đủ sự tăng trưởng lợi nhuận thuần của công ty để đẩy thị giá cổ phiếu của công ty lên. Cách tìm kiếm lợi nhuận như vậy trên thị trường chứng khoán được rất nhiều nhà đầu cơ hoặc những người săn cổ phiếu giá rẻ ưa chuộng. Tuy nhiên nó không đem lại mức lợi nhuận đủ để có thể hấp dẫn những người khao khát thu được lợi nhuận tối đa từ các quỹ đầu tư của họ.

Có một kiểu tình huống khác, tuy cũng không thể mang lại lợi nhuận tối đa, nhưng đôi khi giúp nhà đầu tư kiếm được một khoản lớn hơn rất nhiều. Nó xuất hiện khi có một điều kiện thay đổi mở ra một giai đoạn tăng trưởng doanh thu mạnh cho công ty trong vài năm, nhưng sau đó sẽ ngừng. Điển hình là ví dụ về những gì đã xảy ra với rất nhiều hãng sản xuất radio, khi tivi xuất hiện và phổ biến. Doanh thu liên tục tăng cao trong khoảng vài năm. Tuy nhiên, đến 1957, có đến 90% các hộ gia đình sử dụng điện ở Mỹ có tivi, do vậy đường doanh thu đã trở lại trạng thái ổn định. Những người sớm đầu cơ vào cổ phiếu ngành này trước khi đường doanh thu tăng trưởng vượt ngưỡng, đã thu được một khoản lợi nhuận kếch sù. Sau đó khi đường doanh thu thăng bằng trở lại thì những cổ phiếu của ngành này không còn hấp dẫn như trước nữa.

Ngay cả những công ty nổi tiếng nhất cũng không phải luôn có doanh thu của mỗi năm lớn hơn các năm trước. Trong một chương khác, tôi sẽ đưa ra lý do tại sao những rắc rối thông thường trong nghiên cứu thương mại và marketing sản phẩm mới có khuynh hướng khiến doanh thu gia tăng đột biến, chứ không phải tăng đều đặn qua các năm. Tính không ổn định của chu kỳ kinh doanh cũng sẽ ảnh hưởng lớn tới việc so sánh doanh thu giữa các năm. Do đó, không nên đánh giá sự tăng trưởng theo từng năm một, mà nên đánh giá theo chu kỳ vài năm một. Thậm chí, có một số công ty còn hứa hẹn tăng trưởng cao hơn mức bình thường, không chỉ trong chu kỳ vài năm, mà còn cho cả một khoảng thời gian dài sau đó.

Có thể chia những công ty tăng trưởng mạnh mẽ từ thập kỷ này sang thập kỷ khác đó thành hai nhóm. Vì chưa tìm được cụm từ nào thích hợp hơn, tôi sẽ gọi một nhóm là “may mắn và có năng lực”, còn nhóm kia là “may mắn nhờ họ có năng lực”. Một yêu cầu bắt buộc với cả hai nhóm này là khả năng quản lý. Không công ty nào có thể tăng trưởng trong thời gian dài chỉ nhờ may mắn. Nó phải có và phải liên tục duy trì khả năng kinh doanh xuất sắc; nếu không nó không thể tận dụng được vận may của mình, cũng như đánh bại các đối thủ cạnh tranh.

Công ty Aluminum Company of America (Alcoa) là một ví dụ nằm trong nhóm “may mắn và có năng lực”. Những người sáng lập công ty này rất có tầm nhìn xa trông rộng. Họ đã sớm nhìn nhận chính xác về tầm quan trọng của việc đầu tư nguồn lực tài chính cho sản phẩm mới. Dù vậy, không ai trong số họ hay bất cứ người nào khác ở thời điểm đó, có thể dự đoán về quy mô của thị trường các sản phẩm nhôm, những sản phẩm mà sau đó đã phát triển trong bảy mươi năm kế tiếp. Chính sự kết hợp giữa phát triển khoa học kỹ thuật và nền kinh tế đã mang lại nhiều lợi thế cho Aluminum hơn các đối thủ khác. Alcoa đã và vẫn tiếp tục yêu cầu cao về kỹ năng khuyến khích và tận dụng lợi thế của xu hướng phát triển này. Tuy nhiên, cho dù điều kiện khách quan này không tác động tới việc mở rộng thị trường của Alcoa thì công ty vẫn phát triển ‒ dù tốc độ chậm hơn.

Công ty Aluminum đã rất may mắn khi tìm được chỗ đứng trong một ngành thuận lợi và bằng năng lực của mình, đã tận dụng rất tốt cơ hội đó. Năm 1957, cổ phiếu của Alcoa đã rớt gần 40% so với mức giá cao nhất được xác lập năm 1956. Nhưng ngay cả ở mức giá “thấp” này, giá trị cổ phiếu của công ty cũng đã tăng lên 500% so với mức giá giao dịch trung bình (chứ không phải mức thấp) của các cổ phiếu vào năm 1947 − chỉ mới mười năm trước.

Bây giờ, hãy lấy công ty Du Pont làm ví dụ về nhóm còn lại của các chứng khoán có khả năng tăng trưởng − nhóm “may mắn nhờ họ có năng lực”. Ban đầu, công ty này không kinh doanh nylon, giấy bóng kính xenlôfan, licite, neoprene, vải ooclông, milar, hay bất cứ sản phẩm hấp dẫn nào mà ngày nay đã gắn liền với hình ảnh công ty và mang lại những khoản lợi nhuận lớn cho các nhà đầu tư. Trong nhiều năm trước đó, Du Pont sản xuất thuốc nổ. Vào thời bình, công ty có mức độ tăng trưởng tương đương với mức của ngành công nghiệp khai mỏ. Trong những năm gần đây, Du Pont phát triển nhanh do có thêm doanh thu từ việc mở rộng sang lĩnh vực xây dựng cầu đường. Hoạt động kinh doanh nổi bật và óc tài chính tuyệt vời kết hợp với kỹ năng chuyên môn xuất sắc đã mang lại doanh thu trên hai tỷ đô-la mỗi năm cho Du Pont. Áp dụng các kỹ năng và kinh nghiệm thu được từ quá trình kinh doanh thuốc nổ trong những ngày đầu, công ty đã thành công mỹ mãn trong việc liên tục đưa ra thị trường sản phẩm mới, và trở thành một trong những điển hình thành công của Mỹ.

Khi mới nhìn lướt qua ngành công nghiệp hóa chất, những nhà đầu đầu tư ít kinh nghiệm thường nghĩ có một sự trùng hợp may mắn khi các công ty hóa chất có định giá đầu tư cao nhất trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau, thường sản xuất ra những sản phẩm tăng trưởng hấp dẫn nhất của ngành đó. Họ đã nhầm lẫn giữa nguyên nhân và kết quả. Khi nghiên cứu lịch sử của những công ty như Du Pont, Dow hay Union Carbide, nhìn vào đường doanh thu của họ, chúng ta sẽ hiểu rõ làm thế nào các công ty kiểu này lại được xếp vào nhóm “may mắn nhờ họ có năng lực”.

Một trong những ví dụ điển hình nhất về những công ty “may mắn nhờ họ có năng lực” là công ty vận chuyển General American Transportation. Cách đây gần 50 năm, khi công ty mới được thành lập, ngành công nghiệp cung cấp thiết bị đường sắt có vẻ là một ngành có triển vọng tăng trưởng đầy hứa hẹn. Nhưng trong vài năm gần đây, ngành công nghiệp này có dấu hiệu đi xuống. Chính sự thay đổi đó đã làm nảy sinh ý tưởng lắp ráp xe ôtô chuyên chở hàng hóa (vốn kém hấp dẫn). Sự nhạy bén và linh hoạt đã giúp General American Transportation phát triển mạnh mẽ. Chưa thỏa mãn với những điều đã đạt được, các nhà quản lý bắt đầu tận dụng lợi thế về kỹ năng và hiểu biết rút ra từ các hoạt động kinh doanh chính của họ, để bắt đầu tham gia các lĩnh vực khác không liên quan nhưng có khả năng mang lại sự tăng trưởng lớn hơn.

Một công ty có triển vọng doanh thu liên tục tăng trưởng mạnh mẽ trong một số năm tiếp theo, có thể mang lại sự phát đạt cho các nhà đầu tư cho dù công ty đó ở nhóm “may mắn và có năng lực” hay nhóm “may mắn nhờ họ có năng lực.” Tuy nhiên, những điển hình như General American Transportation đã làm sáng tỏ một điều, đó là trong bất cứ trường hợp nào, nhà đầu tư cũng cần phải luôn tỉnh táo đánh giá xem liệu năng lực quản lý của công ty đó có luôn ở mức tốt nhất không; thiếu năng lực đó, doanh thu sẽ không thể tiếp tục tăng.

Việc đánh giá chính xác đường doanh thu dài hạn là cực kỳ quan trọng đối với các nhà đầu tư. Một sự đánh giá thiển cận, thiếu thận trọng có thể dẫn đến những kết luận sai lầm. Tôi đã đề cập đến chứng khoán của các công ty sản xuất radio và tivi như một ví dụ mà thay vì tăng trưởng dài hạn liên tục, cổ phiếu các công ty này lại tăng đột phá do nhu cầu mua tivi của các gia đình trên toàn nước Mỹ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, có một xu hướng mới xuất hiện trong các công ty này: sử dụng chuyên môn điện tử để mở rộng kinh doanh sang các lĩnh vực điện tử khác như truyền thông thiết bị, truyền thông tự động hóa. Những dòng sản phẩm của các ngành này, và trong trường hợp là ngành điện tử phục vụ mục đích quân sự hứa hẹn triển vọng tăng trưởng ổn định trong dài hạn. Tại một số công ty như vậy (ví dụ Motorola), chúng còn đóng vai trò quan trọng hơn cả hoạt động sản xuất tivi. Trong khi đó, những kỹ thuật mới phát triển đã khiến cho các mẫu tivi đầu thập niên 1960 trở nên lạc hậu, lỗi thời.

Một cải tiến tiềm năng của tivi là tivi màu. Một cải tiến khác là kết quả trực tiếp của sự phát triển công nghệ bán dẫn và vi mạch in. Đó là tivi dạng màn hình có kích cỡ và hình dạng khác với tivi treo tường ngày nay một chút. Nếu sự phát triển này đi đôi với hiệu quả thương mại thì một số ít các công ty sản xuất thiết bị truyền hình ứng dụng tốt công nghệ sẽ có doanh thu tăng đột biến, thậm chí lớn hơn và kéo dài hơn nhiều những gì mà họ đã đạt được trước đó! Những công ty như vậy có thể tìm thấy sự phát triển mạnh mẽ mở rộng hơn nữa trong một ngành đang tăng trưởng vững chắc và ngành kinh doanh điện tử phục vụ quân sự. Khi đó, chúng sẽ thu đạt mức tăng trưởng doanh thu lớn − tiêu chí đầu tiên mà nhà đầu tư nào muốn thu lợi nhuận tối đa nên xem xét.

Tôi đề cập đến ví dụ này không phải như một cái gì chắc chắn sẽ xảy ra, mà chỉ như điều gì đó rất có khả năng xảy ra. Nếu công ty được quản lý tốt, và ngành nó tham gia chú trọng tới việc nghiên cứu phát triển và thay đổi công nghệ, thì những nhà đầu tư khôn ngoan nên ý thức rằng rất có khả năng ban quản lý có thể điều hành công việc để tạo ra trong tương lai dạng đường doanh thu lý tưởng cho tiêu chí đầu tiên khi lựa chọn một công ty thực sự đáng đầu tư.

Trong trường hợp này có thể coi Motorola là ví dụ lý tưởng. Công ty đã trở thành hãng dẫn đầu nổi tiếng trong lĩnh vực máy bộ đàm hai chiều. Ban đầu thiết bị này chỉ đặc biệt dành cho xe cảnh sát và xe tắc xi, ngày nay dường như chúng đang tăng trưởng không giới hạn. Các công ty xe tải, chủ sở hữu của hầu hết các đoàn xe giao hàng, các ngành công cộng, các dự án xây dựng lớn, và đường ống chỉ là một phần nhỏ trong các khách hàng sử dụng thiết bị của công ty. Trong khi đó, sau một vài năm nỗ lực phát triển tốn kém, Motorola đã thành lập bộ phận sản xuất thiết bị bán dẫn7 để tìm kiếm lợi nhuận, dẫn đầu chiếm thị phần trong xu hướng tăng trưởng thần kỳ của ngành công nghiệp mới này. Công nghệ bán dẫn trở thành xương sống trong lĩnh vực máy quay đĩa âm thanh nổi, và đem lại nguồn thu gia tăng doanh thu liên tục quan trọng. Nhờ mối liên hệ có một không hai với nhà sản xuất đồ nội thất hàng đầu quốc gia (Drexel), công ty đã bán được một số lượng lớn dòng tivi giá cao. Cuối cùng, sau một vụ mua lại, nó đã đặt chân vào lĩnh vực sản xuất máy trợ thính và có thể phát triển những thiết bị đặc biệt khác. Tóm lại, mặc dù trong thập kỷ tới, một vài tác nhân kích thích quan trọng sẽ tạo ra những bước đột phá lớn chưa từng có với dòng sản phẩm phát thanh truyền hình ban đầu của công ty, nhưng hiện tại điều đó vẫn chưa xảy ra. Tuy nhiên ban quản trị công ty luôn không ngừng tận dụng nguồn lực và kỹ năng trong bản thân tổ chức để tăng trưởng liên tục. Thị trường chứng khoán có đáp lại điều đó? Khi tôi viết xong ấn bản đầu tiên của cuốn sách này, cổ phiếu của Motorola có giá 451/2 đô-la. Ngày nay, mức giá của nó đã là 122 đôla.

Khi nhà đầu tư nhận ra những cơ hội như vậy, lợi nhuận kiếm được sẽ lớn đến chừng nào? Hãy lấy một ví dụ thực tế trong ngành mà chúng ta đang xem xét. Vào năm 1947, một người bạn của tôi ở phố Wall đã tiến hành điều tra khảo sát ngành truyền hình non trẻ. Anh ta nghiên cứu hơn mười nhà sản xuất các linh kiện chính, vào giai đoạn thuận lợi trong năm. Anh ta đưa ra kết luận là hoạt động kinh doanh sẽ ngày càng mang tính cạnh tranh, xuất hiện sự chuyển đổi vị trí dẫn đầu giữa các hãng, và cổ phiếu của một số ngành sẽ trở nên hấp dẫn các nhà đầu tư. Tuy nhiên, điều tra cho thấy ngành thiếu hụt một số lượng lớn các bóng thủy tinh cho đèn hình. Nhà sản xuất loại sản phẩm này thành công nhất là công ty Corning Glass Works. Nghiên cứu sâu hơn các khía cạnh kỹ thuật và nghiên cứu của công ty cho thấy rõ Corning Glass Works rất phù hợp để sản xuất bóng đèn thủy tinh cho ngành truyền hình. Đây là thế mạnh kinh doanh của công ty. Vì triển vọng chung của các dòng sản phẩm khác của công ty đều thuận lợi, nên phân tích này đánh giá cổ phiếu công ty lý tưởng cho cả đầu tư cá nhân và tổ chức. Khi đó, giá cổ phiếu công ty là khoảng 20 đô-la. Sau này, một cổ phiếu được chia tách thành 21/2, và mười năm sau khi bạn tôi mua cổ phiếu của Corning Glass Works, nó đã được bán ở mức giá hơn 100 đô-la, tức là gấp 250 lần của giá mua vào.

Tiêu chí 2. Bộ máy quản lý của công ty có quyết tâm tiếp tục phát triển các dòng sản phẩm hay những quy trình sản xuất, nhằm gia tăng hơn nữa tổng doanh thu trong khi tiềm năng tăng trưởng của các dòng sản phẩm hấp dẫn hiện tại đã bị khai thác quá nhiều?

Những công ty có triển vọng tăng trưởng trong một vài năm tiếp theo do nhu cầu mới về các dòng sản phẩm hiện tại, nhưng không có chính sách hay kế hoạch để tiếp tục phát triển thường chỉ mang lại khoản lợi nhuận một lần. Những công ty này không có khả năng cung cấp phương tiện để đạt được lợi nhuận bền vững trong vòng 10 hoặc 25 năm, mặc dù đây mới là con đường chắc chắn nhất dẫn đến thành công. Muốn đạt được sự tăng trưởng đó, các công ty cần có nghiên cứu khoa học và phát triển kỹ thuật. Dựa trên các phương tiện trên, các công ty có thể cải tiến các sản phẩm cũ và phát triển các sản phẩm mới. Và theo cách thức đó, một ban quản trị không thỏa mãn với những bước tăng trưởng nhất thời sẽ thấy rõ thực chất của tăng trưởng là liên tục phát triển.

Nhà đầu tư thường thu được những lợi nhuận cao nhất từ những công ty coi trọng việc nghiên cứu và cải tiến công nghệ nhằm triển khai những dòng sản phẩm mới có liên quan đến phạm vi hoạt động của công ty. Điều này không có nghĩa là một công ty đáng đầu tư sẽ phải có nhiều bộ phận, trong đó một số sản xuất những dòng sản phẩm hoàn toàn khác biệt. Điều này nghĩa là đặt nghiên cứu ở vị trí trung tâm của mỗi bộ phận, giống như một cái cây vươn ra nhiều nhánh từ thân của nó, sẽ tốt hơn rất nhiều một công ty kinh doanh những dòng sản phẩm mới không liên quan đến hoạt động chính của công ty, các sản phẩm mà nếu có thành công, thì cũng là trong những ngành hoàn toàn khác biệt với hoạt động kinh doanh hiện có.

Tiêu chí 2 dường như hơi lặp lại tiêu chí 1. Nhưng thực tế lại khác. Tiêu chí 1 đánh giá một phần tiềm năng tăng trưởng thật sự của doanh thu nhờ vào sản phẩm của một công ty. Còn tiêu chí 2 đề cập đến thái độ quản lý. Liệu công ty có nhận ra đúng thời điểm phát triển thị trường hiện tại và để tiếp tục lớn mạnh có thể họ sẽ cần tạo ra những thị trường hoàn toàn mới trong tương lai? Công ty nào có cả hai lợi thế, khả năng tăng trưởng ở tiêu chí 1 và thái độ quản lý tốt ở tiêu chí 2 sẽ có nhiều khả năng mang lại khoản đầu tư có lợi nhuận tối đa.

Tiêu chí 3. Những nỗ lực nghiên cứu và phát triển của công ty sẽ ảnh hưởng như thế nào đến quy mô của nó?

Không khó để lấy số liệu các khoản đầu tư hàng năm của các công ty đại chúng dành cho việc nghiên cứu và phát triển, bởi hết các công ty trên đều công bố báo cáo tổng doanh thu bán hàng hàng năm. Chỉ với vài phép toán đơn giản, chúng ta có thể biết được phần trăm doanh thu trích ra dành cho nghiên cứu và phát triển. Nhiều nhà phân tích đầu tư chuyên nghiệp thích so sánh ngân sách dành cho nghiên cứu của công ty này với công ty khác hoạt động trong cùng lĩnh vực. Đôi khi, họ so sánh nó với mức trung bình trong cùng ngành, bằng cách lấy trung bình cộng của rất nhiều công ty hoạt động trong cùng lĩnh vực. Từ đó, họ đưa ra kết luận về tầm quan trọng của nỗ lực nghiên cứu của công ty đối với khả năng cạnh tranh và lượng tiền dành cho nghiên cứu trên mỗi cổ phiếu

Số liệu trên chính là thước đo cho ta biết liệu công ty đang thực hiện rất nhiều nghiên cứu hay thực hiện chưa đủ. Nhưng nếu thiếu những hiểu biết sâu sắc thì các số liệu đó có thể bị sai lệch. Một lý do nằm ở cách công ty xác định khoản chi nào thuộc hay không thuộc chi phí nghiên cứu và phát triển. Có thể một công ty tính vào chi phí nghiên cứu khoản dành cho thiết kế bởi nó thật sự giúp điều chỉnh các sản phẩm hiện tại cho phù hợp với một yêu cầu nào đó. Ngược lại, một công ty khác sẽ tính chi phí vận hành một nhà máy sản xuất thí điểm một sản phẩm hoàn toàn mới vào chi phí sản xuất thay vì chi phí nghiên cứu. Hầu hết các chuyên gia gọi phương pháp này là chức năng nghiên cứu thuần túy bởi nó liên quan trực tiếp tới phương thức tạo ra một sản phẩm mới. Nếu tất cả các công ty báo cáo về chi phí nghiên cứu dựa trên một cơ sở kế toán có thể đối chiếu thì các số liệu liên quan đến toàn bộ các hoạt động nghiên cứu đã được tiến hành bởi các công ty nổi tiếng khác nhau sẽ không giống với những số liệu có trong chu kỳ tài chính.

Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt lớn giữa các công ty về lợi nhuận và chi phí nghiên cứu trong quá trình phân chia các hoạt động kinh doanh. Thậm chí, giữa các công ty được quản lý tốt nhất tỷ số dao động này dường như cũng lên tới 2:1. Điều này có nghĩa là, một số công ty hoạt động tốt thu lãi gấp đôi trên mỗi đô-la chi phí nghiên cứu so với các công ty cũng hoạt động tốt khác. Đối so sánh trong các công ty hoạt động ở mức trung bình, thì sự khác biệt giữa công ty hoạt động tốt nhất và bình thường trong số này là vô cùng lớn. Nguyên nhân là bởi những tiến bộ trong cách thức và quá trình sản xuất các phẩm mới không còn phụ thuộc vào một người tài giỏi. Chúng do nhóm các nhà khoa học trình độ cao, mỗi người một chuyên môn khác nhau, làm ra. Có người là nhà hóa học, có người là nhà vật lý chất lỏng, nhà luyện kim, hoặc nhà toán học. Kỹ năng của mỗi chuyên gia đóng góp một phần cần thiết để tạo nên những sản phẩm hấp dẫn. Cũng cần phải có trưởng nhóm nghiên cứu, người có thể kết hợp công việc khác nhau của mọi người và hướng chúng tới mục tiêu chung. Bởi vậy, số lượng hay uy tín của từng chuyên gia nghiên cứu trong mỗi công ty có lẽ sẽ bị lu mờ bởi hiệu quả làm việc theo nhóm.

Mục đích của việc quản lý là kết hợp các chuyên gia với khả năng kỹ thuật khác nhau thành một nhóm chặt chẽ và khuyến khích mỗi cá nhân trong nhóm làm việc hiệu quả nhất. Sự hợp tác chặt chẽ giữa các nhân viên nghiên cứu trong mỗi dự án phát triển và những người hiểu biết về sản xuất, bán hàng là rất quan trọng. Nếu không duy trì mối liên hệ chặt chẽ giữa nghiên cứu, sản xuất và marketing thì những sản phẩm mới được hình thành trong ý tưởng sẽ không được thiết kế và sản xuất ở mức giá rẻ nhất có thể, hoặc khi được thiết kế, cũng sẽ gặp thất bại trong việc tối đa thị phần bán hàng.

Cuối cùng, còn có một kiểu hợp tác khác để chi phí nghiên cứu đạt hiệu quả tối đa. Đó là sự hợp tác với các nhà quản lý cấp cao nhất hiểu rõ bản chất cốt lõi của nghiên cứu thương mại. Không thể mở rộng những dự án phát triển trong những năm thuận lợi và cắt giảm mạnh trong những năm không thuận lợi mà không làm tổng chi phí tăng gấp bội. Đôi khi những chương trình “cấp tốc” vẫn luôn được các nhà quản lý cấp cao ưa chuộng cũng cần thiết, nhưng chi phí thường khá cao. Chương trình cấp tốc thường xảy ra khi các nhân sự nghiên cứu chủ chốt đột nhiên bị rút khỏi một dự án mà họ đang tham gia và tập trung vào một nhiệm vụ mới dù rất quan trọng ở thời điểm hiện tại nhưng không đáng để làm gián đoạn dự án. Cốt yếu để thành công trong nghiên cứu thương mại là chọn ra nhiệm vụ có khả năng mang lại lợi nhuận cao gấp nhiều lần chi phí nghiên cứu nó. Tuy nhiên, khi một dự án được khởi động, nếu thường xuyên cho phép việc cân nhắc ngân quỹ và những nhân tố phát sinh bên ngoài cắt giảm hoặc tăng tốc dự án sẽ khiến tổng chi phí tăng lên so với lợi nhuận thu được.

Một số công ty hàng đầu lại không chú ý đến điều này. Tôi đã được nghe những nhà lãnh đạo của một vài công ty nhỏ nhưng thành công trong lĩnh vực điện tử, bày tỏ quan điểm. Đáng ngạc nhiên là ở chỗ họ không hề lo sợ phải cạnh tranh với những người khổng lồ trong ngành điện tử. Không lo lắng về việc sản xuất các sản phẩm có tính cạnh tranh của các công ty lớn không có nghĩa là đánh giá thấp khả năng của các nhà nghiên cứu hay không lường hết được những gì chi phí mà một công ty lớn thường sử dụng cho việc nghiên cứu. Mà là do các công ty lớn thường tạm dừng các dự án đang triển khai và thực hiện các chương trình cấp tốc nhằm đạt được các mục tiêu ngắn hạn của các nhà lãnh đạo. Một vài năm trước tôi được biết một trường đại học công nghệ nổi tiếng đã khuyên các sinh viên sắp tốt nghiệp của trường không nên đăng tuyển vào một công ty dầu khí. Lý do là bởi bởi lãnh đạo của công ty đó định thuê nhân viên trình độ cao cho những dự án kéo dài khoảng năm năm. Ba năm sau, công ty không còn hứng thú với một dự án trong số đó và đã đình chỉ nó, dẫn đến lãng phí tiền của cũng như tạo ấn tượng xấu với những ứng viên định xin việc vào công ty.

Một nhân tố khác khiến việc định giá đầu tư chính xác cho nghiên cứu trở nên phức tạp, đó là làm thế nào định giá rất nhiều nghiên cứu liên quan đến hợp đồng quốc phòng. Những chương trình nghiên cứu như vậy không được thực hiện bằng chi phí của công ty, mà lấy từ ngân sách liên bang. Một số nhà thầu phụ trong lĩnh vực quốc phòng cũng có những nghiên cứu quan trọng cho lợi ích của nhà thầu chính mà họ đang cung cấp. Liệu nhà đầu tư có nên coi trọng tổng chi của dự án như vậy ngang bằng với nghiên cứu tiến hành bằng chi phí của chính công ty không? Nếu không, nên định giá nó ra sao trong tương quan với nghiên cứu được công ty bảo trợ? Giống như rất nhiều giai đoạn khác khác trong lĩnh vực đầu tư, không thể giải đáp những vấn đề này bằng công thức toán học cứng nhắc. Mỗi trường hợp lại một khác.

Biên lợi nhuận của hợp đồng quân sự luôn nhỏ hơn của hợp đồng kinh tế phi chính phủ, vấn đề là ở chỗ hợp đồng mua bán những vũ khí mới thường là mục tiêu đấu thầu cạnh tranh từ các kế hoạch của chính phủ. Điều này có nghĩa, không thể kinh doanh các sản phẩm do chính phủ tài trợ nghiên cứu như các sản phẩm do công ty nghiên cứu. Do vậy, đứng trên quan điểm của nhà đầu tư, giá trị kinh tế của các dự án nghiên cứu được chính phủ tài trợ có sự khác biệt rất lớn. Ví dụ minh họa mang tính lý thuyết dưới đây có thể cho chúng ta thấy vì sao mà ba dự án sau lại có những giá trị rất khác biệt đối với nhà đầu tư:

Một dự án sản xuất loại vũ khí mới tối tân không được phép sử dụng cho mục đích phi quân sự vì quyền sử dụng những loại vũ khí này đều thuộc chính phủ. Vấn đề là ở chỗ, sau khi phát minh ra loại vũ khí đó, công ty đã nghiên cứu nó không có bất cứ lợi thế nào so với công ty khác trong việc đấu thầu sản xuất. Những nỗ lực trong nghiên cứu như thế hầu như không có giá trị đối với nhà đầu tư.

Nhưng nếu một dự án khác cũng sản xuất loại vũ khí tương tự với công nghệ sản xuất phức tạp hơn, nên công ty không tham gia nghiên cứu ngay từ đầu rất khó sản xuất ra chúng, thì cho dù không mang lại lợi nhuận cao, một dự án nghiên cứu như vậy sẽ vẫn có giá trị vừa phải với nhà đầu tư, bởi nó sẽ tiếp tục nhận được sự hỗ trợ và bảo đảm từ phía chính phủ.

Còn công ty thứ ba sản xuất vũ khí và trong quá trình sản xuất, học được các nguyên tắc và kỹ thuật có khả năng ứng dụng cho các dòng sản phẩm thương mại thông thường, sẽ thu được lợi nhuận cao hơn nhiều. Một dự án nghiên cứu như vậy có giá trị lớn đối với các nhà đầu tư. Thành công rực rỡ nhất gần đây của một vài công ty là xuất phát từ việc được chính phủ cho phép áp dụng các kết quả nghiên cứu vì mục đích quân sự vào các lĩnh vực phi quân sự. Những công ty như vậy đang mang lại cho chính phủ những kết quả nghiên cứu thiết yếu cho quốc phòng. Và trong quá trình nghiên cứu đó, với chi phí thấp hoặc bằng không, họ cũng đồng thời thu được những lợi nhuận nghiên cứu phi quân sự mà nhẽ ra họ có thể phải tự trả. Nhân tố này là một trong những lý do chính mang lại thành công ngoài sức tưởng tượng cho tập đoàn Texas Instruments. Trong vòng bốn năm, họ đã tăng trưởng gần 500% từ mức giá 51/4 đô-la vào thời điểm bắt đầu được niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán New York vào năm 1953. Trong giai đoạn đó, giá cổ phiếu của Ampex cũng tăng 700% nhờ nhân tố trên.

Cuối cùng, một hoạt động khác cũng cần được đánh giá khi xem xét giá trị đầu tư tương đối của các tổ chức nghiên cứu trong công ty. Đây là những thứ thường không được xét đến trong nghiên cứu phát triển − nghiên cứu thị trường. Hoạt động nghiên cứu thị trường được coi như cầu nối giữa nghiên cứu phát triển và doanh thu. Những nhà quản lý hàng đầu cần phải được cảnh báo chống lại sức cám dỗ trong việc sử dụng tổng nguồn vốn vào việc nghiên cứu và phát triển một sản phẩm hấp dẫn mà khi nó hoàn thành sẽ mở ra thị trường lớn nhưng lại không đủ để thu lại lợi nhuận tương xứng. Bởi lý do đó, tôi cho rằng không bao giờ nên thỏa mãn với một thị trường chỉ đủ lớn để có thể bù lại chi phí nghiên cứu mà không mang lại nhiều lợi nhuận cho nhà đầu tư. Một tổ chức nghiên cứu cần phát triển theo hướng biến một dự án thành công về mặt kỹ thuật và không có khả năng chi trả cho chi phí của chính nó thành một dự án có thể mở rộng thị trường với khả năng bù đắp chi phí tăng gấp ba lần. Điều này sẽ nâng cao giá trị công ty trong mắt nhà đầu tư.

Nếu các thước đo định lượng − ví dụ: chi phí nghiên cứu hàng năm hay số lượng nhân viên có bằng cấp − mới chỉ là chỉ dẫn sơ sài chứ không xác định được liệu tổ chức nghiên cứu của một công ty có xuất sắc không, thì nhà đầu tư cẩn trọng phải tìm những thông tin quan trọng như thế nào? Một lần nữa, phương pháp “lời đồn đại” lại phát huy hiệu quả. Cho đến khi nhà đầu tư trung bình sử dụng phương pháp này, anh ta sẽ không thể tin nổi trước độ hoàn chỉnh của bức tranh anh ta thu được khi đặt những câu hỏi thông minh về các hoạt động nghiên cứu của một công ty từ nhóm những nhà nghiên cứu thành phần đa dạng gồm người trong nội bộ công ty, đối thủ sản xuất dòng sản phẩm cạnh tranh, chuyên gia trong các trường đại học, trong chính phủ. Một phương pháp đơn giản và đáng giá hơn là tiến hành nghiên cứu sâu doanh thu và lợi nhuận thuần mà tổ chức nghiên cứu đóng góp cho công ty trong một khoảng thời gian cụ thể, chẳng hạn mười năm trước đó. Một tổ chức nghiên cứu cùng với khả năng hoạt động tốt đã sản xuất ra một dòng sản phẩm mới có thể mang lại lợi nhuận trong một chu kỳ kinh doanh, vẫn có thể hữu ích như vậy trong tương lai, miễn là nó tiếp tục hoạt động theo những phương pháp chung.

Tiêu chí 4. Cách thức tổ chức bán hàng của công ty đã hiệu quả chưa?

Trong thời buổi cạnh tranh hiện nay, chỉ có một số ít những sản phẩm và dịch vụ của vài công ty là thật sự gây được tiếng vang, và có thể tiêu thụ ở mức tối đa tại những thị trường tiềm năng của công ty. Thường thì điều này có được là nhờ đội ngũ marketing bán hàng. Việc xúc tiến bán hàng là hoạt động cơ bản nhất của các doanh nghiệp. Hoạt động marketing lặp đi lặp lại nhằm mang lại sự thỏa mãn nhất cho các khách hàng là chuẩn mực đầu tiên để tiến đến thành công. Tuy nhiên, hiệu quả nổi bật của các hoạt động marketing bán hàng của một công ty nhờ quảng cáo, tổ chức phân phối hàng hóa lại nhận được ít sự quan tâm từ phía nhà đầu tư, thậm chí cả với những nhà đầu tư cẩn trọng, so với việc sản xuất, nghiên cứu, tài chính, hay những hoạt động ngoài lề khác.

Có một lý do giải thích cho vấn đề này. Khá dễ dàng tìm ra tỷ lệ so sánh về: chi phí sản xuất, chi phí đầu tư nghiên cứu, hoặc cơ cấu tài chính với các đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, không đơn giản khi lượng hóa những yếu tố như năng lực bán hàng hay phân phối. Càng để tâm nghiên cứu, chúng ta càng thấy những con số đó quá sơ sài để có thể cung cấp cho chúng ta điều gì ngoài một bước đầu gợi ý những thông tin mà chúng ta tìm kiếm. Giá trị của chúng liên quan tới hoạt động sản xuất và cơ cấu tài chính. Cho dù những tỷ lệ so sánh này có đóng vai trò gì trong chu trình tài chính hay không thì sự thật là những nhà đầu tư vẫn thích dựa vào chúng để đánh giá về công ty. Bởi những nỗ lực marketing bán hàng không phải là một đại lượng có thể tính toán bằng công thức, nên rất nhiều nhà đầu tư đã hoàn toàn bỏ qua việc đánh giá nó, mặc dù việc này rất cơ bản và quan trọng để xác định giá trị đầu tư thực tế.

Lại một lần nữa, hướng giải quyết cho tình thế này nằm ở phương pháp “lời đồn đại”. Trong tất cả các hoạt động của công ty, không có hoạt động nào dễ hơn việc học tập phương thức tổ chức bán hàng của các công ty khác trong cùng ngành. Cả đối thủ cạnh tranh và khách hàng của doanh nghiệp đều biết các đáp án mà nhà đầu tư cần tìm. Họ là những người có cái nhìn chính xác nhất về doanh nghiệp mà bạn đang quan tâm. Những nhà đầu tư cẩn trọng mất nhiều thời gian vất vả để tìm hiểu vấn đề này thường được đền đáp xứng đáng.

Tôi viết về các vấn đề liên quan đến năng lực bán hàng của một doanh nghiệp ngắn hơn phần viết về vấn đề nghiên cứu phát triển của nó. Điều này không có nghĩa là tôi cho rằng nó ít quan trọng. Trong thời buổi cạnh tranh ngày nay, cần phối hợp rất nhiều thứ quan trọng mới mang lại thành công. Việc nói vấn đề này quan trọng hơn vấn đề kia cũng giống như khi nói trái tim, phổi, hay bộ máy tiêu hóa, cơ quan nào là quan trọng nhất trong bộ máy chức năng của cơ thể. Chúng ta cần các bộ phận này đều đảm nhận tốt chức năng để có một cơ thể khỏe mạnh. Hãy tìm kiếm xung quanh bạn những công ty thu hút đầu tư. Hãy cố tìm ra một công ty không có sự phân phối chồng chéo và thường xuyên cải thiện công tác tổ chức marketing bán hàng.

Tôi đã nhiều lần nhắc đến công ty Dow Chemical, đó là vì tôi tin công ty này là một điển hình tuyệt vời cho khoản đầu tư dài hạn an toàn. Dù vậy, có một điều ít người biết là công ty này lựa chọn và đào tạo nhân sự bán hàng cũng kỹ lưỡng như khi tuyển dụng các nhà nghiên cứu hóa học làm việc cho họ. Trước khi một sinh viên vừa tốt nghiệp đại học trở thành nhân viên bán hàng cho công ty Dow, anh ta sẽ được mời tham dự vài chuyến công tác tại Midland để cả anh ta và công ty đều có thể chắc chắn rằng anh ta có tính cách và khả năng hoàn toàn phù hợp với công việc bán hàng. Sau đó, trước khi anh ta gặp các khách hàng tiềm năng của mình, anh ta phải tham gia một khóa huấn luyện đặc biệt kéo dài trong khoảng vài tuần, nhưng chia thành nhiều đợt trong năm để có thể đảm đương được những công việc bán hàng phức tạp hơn. Đây mới chỉ là khởi đầu cho những đợt đào tạo mà anh ta sẽ phải trải qua; một số nỗ lực lớn nhất của công ty là tìm kiếm những hướng đi hiệu quả để thu hút khách hàng bằng dịch vụ và hệ thống phân phối.

Không chỉ có Dow và các công ty điển hình khác trong lĩnh vực hóa chất chú ý đến việc bán hàng và phân phối sản phẩm. Trong một ngành khá khác biệt, IBM là công ty mang lại phần thưởng xứng đáng cho người sở hữu cổ phiếu của nó. Gần đây, một lãnh đạo cấp cao của IBM đã nói với tôi rằng một nhân viên bán hàng bình thường của công ty cũng sử dụng 1/3 thời gian tại các trường đào tạo do IBM tài trợ! Tỷ lệ đáng kinh ngạc này là kết quả của nỗ lực giúp khả năng bán hàng có thể bắt kịp công nghệ đang ngày càng biến đổi nhanh chóng. Tôi tin rằng những công ty thành công nhất luôn tìm cách nâng cao khả năng bán hàng của nhân viên. Lợi nhuận một lần có thể được tạo ra trong công ty nhờ những kỹ năng về sản xuất hay nghiên cứu mà không cần đến sự tổ chức phân phối thật sự mạnh mẽ. Tuy nhiên, những công ty như vậy có thể rất dễ bị tổn hại. Để có được sự tăng trưởng bền vững thì công ty cần một đội ngũ bán hàng được đào tạo và tổ chức thật tốt.

Tiêu chí 5. Biên lợi nhuận của công ty có cao không?

Đây là một chủ đề được giới tài chính coi như xương sống của các quyết định đầu tư bền vững. Trên quan điểm của nhà đầu tư, doanh thu chỉ có giá trị khi làm tăng lợi nhuận. Doanh thu tăng không có nghĩa là lợi nhuận sẽ tăng lên tương ứng. Bước đầu tiên để xác định lợi nhuận là nghiên cứu biên lợi nhuận của công ty, tức là xác định lợi nhuận hoạt động có được từ doanh thu tính theo đô-la. Rõ ràng có sự khác biệt lớn giữa các công ty khác nhau ngay trong cùng một ngành. Nên tiến hành bước nghiên cứu này không chỉ trong một năm mà là nhiều năm. Trong thời kỳ thịnh vượng khác thường của ngành, hầu hết các công ty đều có biên lợi nhuận rộng hơn, do đó tổng lợi nhuận tính bằng đô-la cũng cao hơn. Tuy nhiên, trong những năm thuận lợi, chính các công ty có biên lợi nhuận nhỏ hơn lại luôn luôn có tỷ lệ tăng biên lợi nhuận nhiều hơn so với các công ty có chi phí thấp (biên lợi nhuận của các công ty này cũng tăng nhưng không cao bằng). Chính điều này dẫn đến thực tế là trong một năm kinh doanh thuận lợi khác thường, những công ty yếu thế thường gia tăng phần trăm thu nhập cao hơn những công ty mạnh trong cùng lĩnh vực. Dù vậy, cần phải nhớ rằng, những thu nhập kiếm được nhanh chóng theo kiểu như vậy dễ bị sụt giảm khi hoạt động kinh doanh đi xuống.

Vì lý do này mà tôi tin rằng không thể đạt được lợi nhuận cao nhất trong dài hạn khi đầu tư vào các công ty có biên lợi nhuận thấp. Lý do duy nhất để xem xét việc đầu tư dài hạn vào một công ty có biên lợi nhuận quá thấp là khi xuất hiện những dấu hiệu chắc chắn cho thấy sự thay đổi mang tính cốt lõi sẽ xảy ra trong công ty. Sự cải thiện biên lợi nhuận xuất hiện vì các lý do khác chứ không chỉ nhờ việc mở rộng số lượng hoạt động kinh doanh tạm thời của công ty. Nói cách khác, công ty sẽ thoát khỏi danh sách những công ty có biên lợi nhuận thấp theo nghĩa đen, bởi vì lý do thật sự để mua cổ phiếu của nó là vì công ty hoạt động hiệu quả hoặc phát triển các sản phẩm mới. Khi những thay đổi nội bộ như vậy được tiến hành tại một công ty mà các khía cạnh khác đều đáp ứng tiêu chuẩn của đầu tư dài hạn, thì nó thật sự là một mục tiêu hấp dẫn.

Trong số các công ty lớn có thâm niên, hầu hết các khoản lợi nhuận đích thực được do đầu tư đều xuất phát từ những công ty có biên lợi nhuận khá rộng. Thường thì chúng nằm trong số các công ty có biên lợi nhuận cao nhất ngành. Nhưng thực tế khi áp dụng quy luật biên lợi nhuận đối với các công ty mới tham gia thị trường, hoặc một vài công ty đã hoạt động lâu năm lại có sự sai lệch khá lớn. Tại một số giai đoạn nhất định, những công ty này sẽ quyết định đẩy mạnh tăng trưởng bằng cách sử dụng tất cả hoặc một phần lớn khoản lợi nhuận kiếm được để nghiên cứu hoặc khuyến mại nhiều hơn. Vấn đề là ở chỗ việc tăng cường nghiên cứu, khuyến mại, hay tiến hành những hoạt động khác được cấp vốn hôm nay là vì mục đích tương lai của công ty, cũng chính là nguyên nhân làm biên lợi nhuận tạm thời không tăng thậm chí bằng không.

Điều cần quan tâm nhất là phải đảm bảo các hoạt động được cấp vốn bằng cách giảm biên lợi nhuận không chỉ là các hoạt động cần để thúc đẩy tăng trưởng, mà còn đem lại nhiều việc nghiên cứu, khuyến mại… hơn tỷ lệ vốn cấp. Nếu vậy, công ty có biên lợi nhuận nhỏ sẽ trở thành một khoản đầu tư cực kỳ hấp dẫn. Tuy nhiên, trừ các trường hợp ngoại lệ này, còn lại mọi nhà đầu tư mong đợi thu lợi nhuận dài hạn cao nhất nên tránh xa những công ty có biên lợi nhuận thấp hoặc bằng không.

Tiêu chí 6. Công ty đang làm gì để duy trì hoặc cải thiện biên lợi nhuận?

Thành công của việc đầu tư vào cổ phiếu của một doanh nghiệp nào đó không phụ thuộc vào những thông tin nói chung về doanh nghiệp tại thời điểm mua mà dựa vào những gì sẽ xảy ra sau khi cổ phiếu được mua. Do đó, biên lợi nhuận trong tương lai mới đóng vai trò quan trọng đối với nhà đầu tư. Ngày nay dường như có một mối đe dọa thường trực ảnh hưởng tới biên lợi nhuận. Chi phí tiền lương và tiền công tăng lên theo từng năm.

Ngày nay, rất nhiều ký hợp đồng lao động dài hạn, khiến các loại chi phí này càng tăng lên trong vài năm sau đó. Chi phí lao động tăng kéo theo giá nguyên liệu thô tăng lên. Tỷ lệ thuế địa phương và thuế bất động sản cũng tăng lên đều đặn. Trong bối cảnh này, những công ty khác nhau sẽ có xu hướng biên lợi nhuận khác nhau. Một số công ty ở vị trí may mắn có thể thu lợi nhuận bằng cách tăng giá bán. Thường điều này là do các công ty này nằm trong những ngành mà nhu cầu về sản phẩm của họ vô cùng nhiều, hoặc do mức giá bán của các sản phẩm cạnh tranh tăng lên, thậm chí còn cao hơn giá bán ra của chính các công ty trên. Tuy nhiên, trong nền kinh tế, việc duy trì và cải thiện biên lợi nhuận bằng cách này thường chỉ mang tính tạm thời bởi vì khả năng sản xuất cạnh tranh mới sẽ xuất hiện. Năng suất mới sẽ trở nên quan trọng hơn khoản lợi nhuận gia tăng, để đến thời điểm chi phí sẽ không kéo theo tăng giá. Biên lợi nhuận theo đó cũng bắt đầu giảm đi.

Một ví dụ điển hình về vấn đề này là sự thay đổi bất thường của thị trường nhôm vào mùa thu năm 1956, chỉ trong vài tuần, điều kiện cung cấp thiếu hụt đã bị thay thế bằng cạnh tranh bán hàng gay gắt. Trước thời điểm đó, giá nhôm cũng đã tăng do chi phí tăng. Nếu nhu cầu sản phẩm không tăng nhanh hơn khả năng sản xuất, thì tốc độ tăng giá nhôm sẽ giảm đi. Tương tự các nhà sản xuất thép lớn nhất phải miễn cưỡng tăng giá cả của các loại sản phẩm thép khan hiếm để cung cấp cho “tất cả các thị trường có thể sinh lợi”, điều này phản ánh phần nào suy nghĩ lâu dài về việc tăng biên lợi nhuận thông qua tăng giá.

Nguy cơ dài hạn này sẽ được minh họa rõ ràng nhất thông qua những gì đã xảy ra đối với các nhà sản xuất đồng hàng đầu trong cùng thời gian sáu tháng cuối năm 1956. Những công ty này đã phải tự kiềm chế mình, thậm chí trong một thời gian dài phải bán dưới mức giá thế giới nhằm giữ giá đồng không tăng lên quá cao. Tuy nhiên, giá đồng vẫn tăng đáng kể làm giảm bớt lượng cầu và thu hút về một nguồn cung cấp mới. Tiềm năng tiêu thụ đồng của các nước Tây Âu giảm mạnh do việc đóng cửa kênh đào Suez, điều này càng khiến cho tình trạng cung cầu trở nên mất cân đối. Có thể các biên lợi nhuận năm 1957 thấp hơn do biên lợi nhuận năm năm 1956 quá cao. Khi biên lợi nhuận gộp của cả ngành đều tăng bởi việc tăng giá liên tục, đó là dấu hiệu không tốt đối với các nhà đầu tư dài hạn.

Trái lại, những công ty khác, kể cả những công ty trong cùng ngành này, tăng biên lợi nhuận lâu dài bằng cách khác thông minh hơn là việc chỉ tăng giá. Một số công ty đạt được thành công lớn do đã duy trì việc cải thiện vốn hoặc duy trì các phòng thiết kế sản phẩm. Chức năng duy nhất của những phòng như vậy là thiết kế thiết bị có khả năng làm giảm chi phí để có thể bù lại tất cả hoặc một phần nào đó xu hướng tăng lên của tiền lương. Rất nhiều công ty thường xuyên xem xét lại các quy trình làm việc và phương pháp hoạt động nhằm tìm ra các công đoạn có thể tiết kiệm chi phí. Chức năng kế toán và việc xử lý sổ sách là một lĩnh vực hết sức phong phú, đầy sáng tạo cho kiểu hoạt động này. Chúng ta thử nghiên cứu trường hợp trong lĩnh vực vận tải. Phí vận chuyển phải tăng cao hơn hầu hết các phí tổn khác, bởi chi phí cho lao động trong ngành này cao hơn hầu hết các loại hình sản xuất khác. Việc sử dụng các loại công-ten-nơ mới, áp dụng những phương pháp không phổ biến trong ngành vận tải, hay thậm chí đặt thêm các chi nhánh đều để tránh những khoản không cần thiết đã giảm chi phí cho các công ty kiểu này.

Không có cách nào trong những cách này có thể được thực hiện nhanh chóng. Tất cả chúng đều đòi hỏi việc nghiên cứu chặt chẽ và lập những kế hoạch phù hợp cho tương lai. Nhà đầu tư nên lưu ý về sự độc đáo của những ý tưởng mới có khả năng cắt giảm chi phí và cải thiện biên lợi nhuận. Ở đây, phương pháp “lời đồn đại” đem lại một số thông tin có giá trị, nhưng không thể sánh bằng chỉ dẫn trực tiếp từ nhân sự của công ty. May mắn thay, đây là một chủ đề mà các nhà lãnh đạo hàng đầu thảo luận khá chi tiết. Những công ty thành công nhất nhờ đi theo hướng này sẽ xây dựng được một tổ chức biết rõ cách tiếp tục thực hiện những phương pháp hữu ích trong tương lai. Chúng được kỳ vọng sẽ là nhóm công ty mang lại những phần thưởng lớn nhất cho các cổ đông lâu năm.

Tiêu chí 7. Mối quan hệ giữa bộ máy lãnh đạo và người lao động trong công ty có tốt không?

Hầu hết các nhà đầu tư có thể không đánh giá cao những lợi ích có được từ các mối quan hệ lao động tốt đẹp. Song ít người nào lại không hiểu rõ mức độ ảnh hưởng của các mối quan hệ xấu. Ảnh hưởng của những cuộc đình công liên tục và kéo dài đối với sản xuất quá rõ ràng với bất kỳ ai, thậm chí chỉ cần liếc qua báo cáo tài chính của doanh nghiệp là có thể biết được.

Tuy nhiên, sự chênh lệch trong khả năng sinh lợi giữa một công ty có mối quan hệ nhân sự tốt đẹp với một công ty có mối quan hệ nhân sự không tốt còn lớn hơn chi phí trực tiếp của các cuộc đình công. Khi công nhân cảm thấy được đãi ngộ tốt, thì bộ máy lãnh đạo sẽ tăng năng suất lao động thuận lợi. Hơn nữa, việc người lao động trung thành sẽ làm giảm một khoản đáng kể chi phí đào tạo công nhân mới. Do đó, những công ty có sự biến động nhân sự bất thường gây ra khoản chi phí không cần thiết mà nhẽ ra đã có thể tránh được nhờ quản lý tốt.

Sẽ không dễ dàng cho nhà đầu tư đánh giá đúng chất lượng nhân công và quan hệ của họ với doanh nghiệp? Không có tiêu chuẩn so sánh nào áp dụng cho tất cả các trường hợp. Cách tốt nhất là hãy xem xét một vài yếu tố và sau đó rút ra cái nhìn tổng thể.

Trong thời đại công đoàn hóa hiện nay, các doanh nghiệp chưa có công đoàn hoặc có công đoàn vẫn duy trì tốt mối quan hệ giữa ban lãnh đạo và người lao động. Nếu không thế thì họ đã sớm thành lập công đoàn từ lâu. Việc một số trường hợp đặc biệt không gia nhập hiệp hội công đoàn quốc tế chỉ có thể được giải thích bằng những chính sách nhân sự thành công của công ty.

Mặt khác, trong bất cứ hoàn cảnh nào công đoàn cũng không phải là biểu hiện của mối quan hệ xấu giữa doanh nghiệp và người lao động. Một số công ty có mối quan hệ lao động rất tốt vẫn đồng thời có tổ chức công đoàn hoàn chỉnh, doanh nghiệp cùng với công đoàn đã học cách chung sống dựa trên sự tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Mặc dù hồ sơ về những cuộc đình công liên tục và kéo dài là một chỉ báo rõ ràng về mối quan hệ không tốt giữa doanh nghiệp với người lao động, nhưng về cơ bản việc hoàn toàn không có các cuộc đình công lại không phải là một dấu hiệu tốt. Đôi khi công ty không có các cuộc đình công cũng giống như một ông chồng bị bắt nạt. Việc thiếu vắng những xung đột không có nghĩa là mối quan hệ hoàn toàn tốt đẹp mà là hậu quả do nỗi lo sợ về những xung đột chi phối.

Tại sao người lao động rất trung thành với ông chủ này và phẫn uất về một ông chủ khác? Câu trả lời thường rất phức tạp và khó đưa ra đến mức mà hầu hết các nhà đầu tư chỉ quan tâm tới những dữ liệu về cảm nhận của các công nhân hơn là các nguyên nhân gây ra cảm nhận đó. Một loạt các con số chỉ ra chất lượng thấp của các chính sách về quản lý nhân sự đó là tốc độ thay thế lao động của công ty này so với công ty khác trong cùng lĩnh vực. Các nhà đầu tư quan tâm tới danh sánh ứng viên chờ đợi muốn làm việc cho một công ty là đối thủ của các công ty khác trong cùng lĩnh vực. Dựa trên lập trường xuất phát từ các mối quan hệ tốt đẹp giữa người lao động và ban quản lý, thì trong một lĩnh vực không có số dư lao động, các công ty có một danh sách dài khác thường các ứng viên muốn tham ứng tuyển thường là những công ty đáng để đầu tư.

Dù vậy, nhà đầu tư nên lưu ý một số chi tiết đặc trưng ngoài những con số chung này. Các công ty có mối quan hệ nhân sự tốt thường là những công ty đã nỗ lực hết mình để nhanh chóng giải quyết các lời phàn nàn. Sự bất bình của các cá nhân diễn ra trong thời gian dài và không được ban quản lý doanh nghiệp coi trọng chính là nguy cơ tiềm tàng và cuối cùng sẽ bùng phát. Thêm vào đó, để đánh giá chính xác những phương pháp giải quyết sự bất bình trong công ty, nhà đầu tư rất cần để ý đến tỷ lệ tiền lương trả cho nhân viên. Một công ty với mức thu nhập trên mức trung bình và cũng trả tiền công lao động trên mức trung bình trong toàn doanh nghiệp thì thường có quan hệ tốt đẹp với người lao động. Nhà đầu tư mua cổ phiếu của một công ty mà phần lớn thu nhập kiếm được là nhờ trả tiền công lao động thấp dưới mức trung bình, sẽ gặp phải những rắc rối nghiêm trọng.

Cuối cùng, nhà đầu tư cần nhạy cảm về thái độ hòa nhã của các quản lý cấp cao đối với người lao động bình thường. Đằng sau cách đối đãi chung chung nghe có vẻ tích cực đó, một số nhà quản lý còn thiếu trách nhiệm với những công nhân bình thường trong công ty. Mối quan tâm hàng đầu của họ là làm sao để không phải trích nhiều doanh thu cho người lao động, chứ không phải là những áp lực mang tính bắt buộc từ chủ nghĩa công đoàn hóa. Đa phần, các công nhân được thuê và bị sa thải hàng loạt một cách dễ dàng tùy thuộc vào sự biến động đôi chút về triển vọng bán hàng hay lợi nhuận trong tương lai của công ty. Thiếu cảm giác cần có trách nhiệm với những khó khăn của công nhân có thể khiến gia đình của họ cũng bị ảnh hưởng. Nếu ban quản lý không làm gì để các công nhân cảm thấy họ có ích, cần cho công ty, và là một phần của công ty, cũng không xây dựng lòng tự trọng của mỗi công nhân thì thái độ quản lý đó không phải là cơ sở tin cậy cho các nhà đầu tư.

Tiêu chí 8. Đội ngũ lãnh đạo công ty có đoàn kết, đồng thuận cao không?

Nếu việc giữ mối quan hệ tốt với người lao động trong công ty là vấn đề quan trọng, thì việc tạo ra không khí thẳng thắn trong bộ máy lãnh đạo cấp cao là vấn đề sống còn. Đây là những con người mà các nhận định, tài năng và kỹ năng làm việc nhóm của họ quyết định đến thành bại của bất kỳ dự án kinh doanh nào. Do tỷ lệ vốn góp cho công ty cao, nên họ rất dễ rơi vào trạng thái căng thẳng trong công việc. Liệu đầu tư vào doanh nghiệp mà sự va chạm và xích mích có thể làm cho một giám đốc điều hành tài năng sẽ không thể ở lại công ty hoặc ở lại nhưng không thể phát huy tối đa khả năng có phải là một cơ hội tốt hay không?

Công ty mang lại những cơ hội đầu tư lớn nhất là một công ty có một môi trường điều hành hết sức hiệu quả. Những nhà điều hành chiếm được niềm tin của chủ tịch hội đồng quản trị. Điều này nghĩa là từ cấp thấp nhất cho đến cao đều cảm thấy cơ hội thăng tiến của họ là dựa trên khả năng chứ không phải tư tưởng bè phái. Mô hình kiểu gia đình trị không tạo ra được sự phát triển cho những người có khả năng. Sự xem xét điều chỉnh mức lương thường xuyên giúp cho các nhà điều hành cảm thấy được thưởng công xứng đáng mà không cần đòi hỏi. Mức lương thấp nhất cũng nên nằm trong khung chuẩn của ngành và địa phương. Bộ máy quản lý không giao những việc quan trọng cho người ngoài công ty trừ khi không thể tìm thấy ai trong công ty có khả năng đảm nhận công việc đó. Những nhà quản lý hàng đầu sẽ nhận ra rằng ở bất cứ đâu có con người làm việc cùng nhau, không thể tránh khỏi việc tồn tại bè phái và va chạm ở các mức độ khác nhau, nhưng không thể chấp nhận những người bất hợp tác trong các nhóm nhằm giảm tối đa những xung đột. Nhà đầu tư có thể nắm bắt hầu hết những điều này mà không cần đặt quá nhiều câu hỏi trực tiếp về công ty với các nhà điều hành chịu trách nhiệm ở các cấp độ khác nhau. Càng rời xa những tiêu chuẩn này, doanh nghiệp càng khó có cơ hội trở thành khoản đầu tư nổi bật.

Tiêu chí 9. Công ty có thật sự có chiều sâu quản lý không?

Một doanh nghiệp nhỏ có thể làm nên những điều phi thường và trở thành một khoản đầu tư triển vọng trong dài hạn nếu có những yếu tố thuận lợi kết hợp với sự quản lý của một người đầy năng lực. Tuy nhiên, năng lực con người có hạn, vì vậy, thậm chí với cả những công ty nhỏ, nhà đầu tư cũng nên có một vài giải pháp đề phòng những khả năng xấu có thể xảy ra nếu người nắm giữ vị trí chủ chốt không còn tham gia nữa. Ngày nay, rủi ro đầu tư vào các công ty nhỏ có tiềm năng không còn lớn như trước, do gần đây xuất hiện các công ty lớn với nhiều kinh nghiệm quản lý có khuynh hướng thôn tính chúng.

Tuy nhiên, những công ty đáng đầu tư lâu dài là những công ty sẽ tiếp tục tăng trưởng. Sớm hay muộn thì một công ty sẽ đạt đến ngưỡng mà ở đó, nó sẽ không thể phát triển hơn nữa trừ khi có những nhà điều hành tài năng xuất chúng. Thời điểm xảy ra điều này tùy thuộc vào ngành hoạt động của công ty và trình độ quản lý của nhà điều hành. Nó thường xuất hiện khi tổng doanh thu hàng năm đạt tới một ngưỡng nằm trong khoảng từ 15 đến 40 triệu đô-la. Một môi trường được điều hành tốt, như đã thảo luận ở tiêu chí 8 đóng vai trò cốt lõi cho những kế hoạch đầu tư lớn.

Những vấn đề đã được thảo luận ở tiêu chí 8 cần thiết cho sự phát triển ban quản lý đúng cách và có chiều sâu. Nhưng ban quản lý đó sẽ không thể phát huy khả năng nếu không thực hiện hiệu quả một số chính sách nhất định. Quan trọng là sự ủy quyền của ban lãnh đạo công ty. Nếu từ trên xuống dưới, mỗi cấp điều hành không được giao thực quyền để đảm trách những nhiệm vụ cụ thể theo cách mà mỗi cá nhân đó cho là hiệu quả, thì cũng giống như một con thú khỏe mạnh bị nhốt trong chiếc cũi không thể cựa quậy. Nhà điều hành sẽ không thể phát huy khả năng vì không có những cơ hội để sử dụng chúng.

Những công ty mà ban lãnh đạo can thiệp và chỉ cố gắng giải quyết các vấn đề hàng ngày, hiếm khi trở thành kiểu công ty có sức thu hút đầu tư. Cắt giảm quyền hạn của các khâu quản lý khác nhau sẽ làm giảm uy tín của công ty. Làm sao một hay hai nhà điều hành có thể giải quyết tất cả mọi vấn đề chi tiết khi mà công ty phát triển đến một ngưỡng nhất định. Những nhà điều hành kiểu này sẽ phải đối mặt với rắc rối vì không có khả năng giải quyết vấn đề nảy sinh do tăng trưởng trong tương lai.

Một vấn đề khác mà nhà đầu tư cũng cần lưu tâm là: đánh giá một công ty có chiều sâu quản lý không. Liệu những nhà quản lý cấp cao của công ty có sẵn sàng đón nhận và đánh giá đúng những đề xuất của nhân viên, thậm chí, kể cả khi những đề xuất đó kèm theo những lời chỉ trích trái ngược với các hoạt động quản lý hiện tại của công ty? Sự cạnh tranh tất yếu trong thế giới kinh doanh ngày nay đã tạo ra nhu cầu cần phải thay đổi tính kiêu căng hay sự thờ ơ của các nhà quản lý, thứ đã ngăn họ khám phá ra một mỏ vàng thật sự từ những đề xuất thú vị. Môi trường đầu tư kiểu đó sẽ không thể trở thành phù hợp nhất cho nhà đầu tư. Chính vì vậy, bất cứ khi nào gia tăng số lượng giám đốc điều hành trẻ cũng hết sức cần thiết.

Tiêu chí 10. Công ty có kiểm soát tốt hệ thống kế toán và phân tích chi phí không? Không có một công ty nào liên tục thành công vang dội trong thời gian dài nếu không thể phân tích mọi chi phí của mình một cách chi tiết, chính xác và đầy đủ, để có thể đưa ra chi phí của từng bước nhỏ trong mỗi hoạt động của nó. Chỉ bằng cách này thì nhà quản lý mới có thể biết cần chú ý nhất đến điều gì và liệu phương pháp giải quyết vấn đề đó có phù hợp không. Hơn nữa, các công ty thành công nhất không chỉ sản xuất một sản phẩm mà là hàng loạt các sản phẩm. Sẽ rất bất lợi nếu nhà quản lý không có sự hiểu biết chính xác về chi phí thực của mỗi sản phẩm so với sản phẩm khác. Họ sẽ không thể thiết lập các chính sách về giá để có thể đảm bảo lợi nhuận là lớn nhất. Khó có thể biết những sản phẩm nào mang lại nhiều lợi nhuận, xứng đáng để tăng doanh số. Tồi tệ nhất là ở chỗ các nhà quản lý không biết rằng một số các hoạt động kinh doanh tưởng là thành công rõ ràng nhưng trên thực tế lại không hiệu quả, tổng doanh thu bị suy giảm nhiều hơn là tăng lên. Do đó, lập kế hoạch thông minh dường như là không thể.

Mặc dù việc kiểm soát hệ thống kế toán đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá khoản đầu tư, nhưng nó thường xuyên hoạt động không hiệu quả khiến cho nhà đầu tư lâm vào tình trạng không thể nắm được tình hình tính toán chi phí và các hoạt động liên quan. Trong lĩnh vực này, đôi khi phương pháp “lời đồn đại” giúp phát hiện ra những công ty thật sự thiếu các năng lực này, nhưng không cung cấp được nhiều thông tin rõ ràng hơn. Bộ máy quản lý công ty thường trả lời là dữ liệu về chi phí là hoàn toàn đầy đủ. Những bảng tính chi phí được trình bày chi tiết trong các báo cáo. Tuy nhiên chúng không đưa ra những con số quan trọng chính xác. Điều tốt nhất mà nhà đầu tư cẩn trọng có thể làm trong lĩnh vực này là thừa nhận tầm quan trọng của vấn đề và khả năng có hạn của chính mình trong việc đưa ra những đánh giá mang tính quyết định. Thông thường, anh ta chỉ có thể rút ra những kết luận chung chung là công ty hoạt động trên mức trung bình trong hầu hết các lĩnh vực kinh doanh thì kỹ năng tính chi phí cũng trên mức trung bình, miễn là nhà quản lý cấp cao hiểu tầm quan trọng căn bản của việc kiểm soát hệ thống kế toán và phân tích chi phí thành thạo.

Tiêu chí 11. Công ty có chú ý đến những khía cạnh kinh doanh khá khác biệt với tính chất của ngành ‒ những khía cạnh mang lại cho nhà đầu tư đầu mối quan trọng về mức độ nổi trội của công ty so với đối thủ cạnh tranh không?

Tiêu chí này bao quát khá nhiều vấn đề khác nhau. Đó là vì các vấn đề thuộc loại này hầu như không hề giống nhau đối với mỗi ngành ‒ chúng có thể rất quan trọng với ngành này nhưng lại có rất ít hoặc không có vai trò gì trong ngành khác. Ví dụ trong các yếu tố nổi bật ảnh hưởng đến ngành bán lẻ, thì khả năng giải quyết các vấn đề bất động sản của công ty, chẳng hạn chất lượng hợp đồng cho thuê bất động sản, có tầm quan trọng hàng đầu. Trong những ngành kinh doanh khác, khả năng đó lại ít quan trọng hơn. Tương tự, đối với một số công ty khả năng giữ gìn uy tín là rất quan trọng, trong khi nó lại không mấy quan trọng với các công ty khác. Phương pháp “lời đồn đại” sẽ cung cấp cho nhà đầu tư bức tranh rõ nét về tình hình hoạt động của công ty. Kết luận của nhà đầu tư có thể được kiểm chứng dựa trên những tỷ lệ toán học như chi phí cho thuê trong mỗi đô-la doanh thu, hoặc tỷ lệ thất thu ngân quỹ, nếu tiêu chí này đáng để nghiên cứu kỹ lưỡng.

Trong một số ngành kinh doanh, tổng chi phí bảo hiểm chiếm một phần quan trọng trong mỗi đồng đô-la doanh thu. Đôi khi, điều này đủ quan trọng để tác động đến sự tăng giảm biên lợi nhuận. Trong những lĩnh vực mà bảo hiểm là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tiền lãi, thì nghiên cứu và thảo luận về tỷ lệ này với những người có nguồn thông tin đảm bảo có thể mang lại những lợi ích cho nhà đầu tư. Nó giúp anh ta kiểm tra tình hình quản lý của công ty, vì chi phí bảo hiểm thấp hơn thường đi kèm với kỹ năng quản lý hiệu quả. Ví dụ, kỹ năng xử lý các vấn đề bất động sản tốt sẽ làm giảm chi phí đi thuê trung bình. Ngoài ra, việc tích cực giải quyết vấn đề nhân sự, hàng tồn kho, và tài sản cố định có thể làm giảm tai nạn, thiệt hại, và lãng phí, nhờ đó chi phí giảm xuống mức thấp nhất có thể. Chỉ số chi phí bảo hiểm cũng nằm trong số những tiêu chí đánh giá công ty nào quản lý tốt.

Bằng phát minh sáng chế đem lại sự khác biệt giữa công ty này và công ty khác. Với những công ty lớn, có bằng sáng chế là một ưu thế giúp công ty hạn chế chi phí nhỏ lẻ phát sinh từ các hoạt động cạnh tranh gay gắt, và đem lại lợi thế cạnh giúp tăng biên lợi nhuận của các dòng sản phẩm của công ty. Nó cũng kéo dài dòng đời sản phẩm. Tương tự, nhờ sự bảo hộ của bằng sáng chế mà công ty có những quyền lợi độc nhất, phương cách rẻ nhất và dễ nhất để sản xuất sản phẩm đặc biệt. Các đối thủ cạnh tranh phải đi theo đường vòng để đến được cùng vị trí, do đó, việc cấp sở hữu bằng sáng chế mang lại ưu thế cạnh tranh hữu hình cho chủ sở hữu cho dù đó chỉ là một công ty nhỏ.

Trong thời đại bí quyết công nghệ phổ biến khắp nơi, những công ty lớn hiếm khi nhận được nhiều lợi ích từ những hoạt động của mình trong lĩnh vực độc quyền mà bằng sáng chế bảo vệ. Thực tế thì những bằng sáng này chỉ hạn chế được một phần chứ không phải là tất cả sự cạnh tranh của các công ty khác. Bởi lý do này mà rất nhiều công ty lớn đã không cố gắng loại trừ sự cạnh tranh thông qua cơ cấu bằng sáng chế, thay vào đó, họ cấp phép sử dụng bằng sáng chế cho đối thủ cạnh tranh với giá vừa phải và mong muốn đối thủ cạnh tranh cũng làm như vậy. Những ảnh hưởng như phương thức sản xuất, tổ chức bán hàng và dịch vụ, sự tín nhiệm của khách hàng, và sự hiểu biết về các vấn đề của khách hàng còn tác động nhiều hơn vai trò của bằng sáng chế trong việc duy trì vị thế cạnh tranh. Trong thực tế, các công ty lớn chủ yếu dựa vào sự bảo hộ của bằng sáng chế để duy trì biên lợi nhuận là dấu hiệu của sự yếu kém hơn là lớn mạnh. Các bằng sáng chế hoạt động độc lập. Một khi không còn sự bảo trợ của bằng sáng chế nữa, lợi nhuận của công ty sẽ bị sụt giảm mạnh.

Trong những giai đoạn đầu, các công ty mới vào ngành thường bắt đầu phát triển sản xuất, bán hàng và tổ chức dịch vụ cho khách hàng. Không có các bằng sáng chế, những sản phẩm của công ty có thể bị bắt chước bởi các doanh nghiệp lớn với những kênh bán hàng đã được xây dựng dựa trên mối quan hệ khách hàng nhằm loại bỏ các đối thủ cạnh tranh nhỏ lẻ. Bởi vậy, nhà đầu tư nên xem xét vai trò của bằng sáng chế tại những doanh nghiệp nhỏ trong những năm đầu. Anh ta nên tìm kiếm những thông tin từ các nguồn đáng tin cậy liên quan đến tầm ảnh hưởng của bằng sáng chế các thiết bị. Công ty này có thể sử dụng bằng sáng chế ngăn cản các công ty khác làm nhái các sản phẩm tương tự. Tuy nhiên, công nghệ được sử dụng thường xuyên để cải tiến các sản phẩm cho thấy ưu thế vượt trội so với sự bảo hộ mang tính chất tĩnh tại của bằng sáng chế.

Ví dụ, một vài năm trước đây, khi còn là một tổ chức nhỏ hơn nhiều so với ngày nay, hãng sản xuất điện tử non trẻ West Coast đã hết sức thành công trong việc giới thiệu một sản phẩm mới. Một trong những người khổng lồ của ngành điện tử đã đưa ra thị trường một sản phẩm “bản sao Trung Quốc” dưới một thương hiệu nổi tiếng gần giống hệt sản phẩm West Coast, nhưng còn tồn tại nhiều lỗi kỹ thuật chưa được chỉnh sửa. Trong khi đó, West Coast đưa ra thị trường sản phẩm đã loại bỏ hoàn toàn những điểm yếu kỹ thuật, và thế là công ty lớn kia phải rút khỏi lĩnh vực này. Điều đó cho thấy kỹ thuật mới là yếu tố nền tảng để bảo vệ công ty trẻ trước sự cạnh tranh khốc liệt chứ không phải là bằng sáng chế. Nhà đầu tư phải cẩn trọng không nên đánh giá quá cao sự bảo vệ của bằng sáng chế mà quên đi những nhân tố quyết định sự hấp dẫn của khoản đầu tư.

Tiêu chí 12. Công ty có triển vọng lợi nhuận ngắn hạn và dài hạn như thế nào? Một số công ty sẽ hoạt động nhằm đạt được lợi nhuận tối đa trước mắt. Trong khi đó, những công ty khác lại cắt bớt lợi nhuận trước mắt nhằm xây dựng lòng tin, và do đó có thể thu được những khoản lợi nhuận lâu dài. Cách cư xử giữa người bán và người mua cho thấy rõ điều này. Một số công ty thỏa thuận lỏng lẻo với các nhà cung cấp. Công ty khác thì lại chi trả tiền trước, thậm chí là vượt mức giá cho các nhà cung cấp để đảm bảo nguồn cung nguyên liệu thô, hoặc những phụ kiện có chất lượng cao luôn sẵn có kể cả khi thị trường biến động. Sự khác biệt trong cách cư xử với các khách hàng là dễ nhận thấy nhất. Một công ty chấp nhận rắc rối và phí tổn đặc biệt để chăm sóc nhu cầu của một khách hàng thường xuyên đang rơi vào tình trạng khó khăn, sẽ khiến lợi nhuận trước mắt thấp hơn nhưng lại thu được lợi nhuận cao hơn trong dài hạn.

Phương pháp “lời đồn đại” phản ánh sự khác biệt này trong các chính sách khá rõ rệt. Những nhà đầu tư mong muốn kết quả lớn nhất nên ủng hộ các công ty có triển vọng lợi nhuận dài hạn.

Tiêu chí 13. Trong tương lai, nếu công ty có dự tính tăng trưởng dựa trên việc tăng vốn cổ phần bằng cách phát hành thêm cổ phiếu, thì lợi ích của các cổ đông hiện tại có giảm sút không?

Một cuốn sách kinh điển về đầu tư thường dành nhiều trang để trình bày về tiền mặt của doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức, tỷ lệ vốn hóa của các loại chứng khoán… Tuy nhiên tại sao những đặc trưng tài chính không được trình bày kỹ lưỡng trong một tiêu chí riêng biệt ngoài mười lăm tiêu chí này? Đó là vì mục đích cơ bản của cuốn sách này là giúp nhà đầu tư thông minh không mua những cổ phiếu thường do giá rẻ mà là do chúng có thể mang lại lợi nhuận lớn cho anh ta trong tương lai.

Chỉ có một tỷ lệ nhỏ các công ty có thể thỏa mãn cao 14 tiêu chí khắt khe được trình bày chi tiết trong phần này. Bất cứ công ty nào có thể đáp ứng các tiêu chí đó đều có thể dễ dàng vay thêm vốn đến mức tối đa đối với ngành kinh doanh của công ty. Nếu những công ty như vậy cần nhiều tiền mặt hơn trong khi giới hạn nợ đã lên đến mức cao nhất, tất nhiên với điều kiện chúng phải đảm bảo rằng trong tương lai sẽ đạt mức tăng trưởng vượt trội về doanh thu, biên lợi nhuận, trình độ quản lý, nghiên cứu và đáp ứng các tiêu chí khác mà chúng ta đang xem xét, thì những công ty đó có thể tăng lượng tiền mặt bằng cách phát hành cổ phiếu, vì các nhà đầu tư luôn háo hức tham gia vào kiểu dự án kinh doanh này.

Tuy vậy, nếu khoản đầu tư bị giới hạn, liệu tiền mặt cộng với khả năng vay thêm có đủ vốn cho công ty khai thác các cơ hội tiềm năng trong tương lai hay không. Và nếu công ty sẵn sàng vay trong giới hạn tính toán thì nhà đầu tư cổ phiếu thường không cần phải lo lắng về tương lai. Vốn được cấp trong một kỳ sẽ làm gia tăng lợi nhuận, tương tự như vậy nếu vốn được cấp thêm trong dài hạn thì lợi nhuận tăng lên càng nhiều.

Nếu sức vay không đủ thì việc cấp vốn cổ phần là hết sức cần thiết. Trong trường hợp đó, sự hấp dẫn của khoản đầu tư còn phụ thuộc vào việc tính toán cẩn thận xem thu nhập tăng thêm mà khoản cấp vốn tạo ra thông qua việc tăng lượng cổ phần có làm giảm lợi ích của các cổ đông hiện đang nắm giữ cổ phiếu thường của doanh nghiệp hay không. Có thể tính toán việc pha loãng giá trị của cổ phiếu khi phát hành thêm các chứng khoán cao cấp có khả năng chuyển đổi hay cổ phiếu thường. Điều này là do kiểu chuyển đổi đó luôn có thể tiến hành với mức cao hơn thị trường một chút trong khoảng thời gian phát hành ‒ thường là từ 10% đến 20%. Mặc dù các nhà đầu tư không bao giờ nên tham gia các cơ hội đầu tư mà mức thu lợi chỉ từ 10% đến 20%, nhưng nếu trong các chu kỳ kế tiếp, mức lợi nhuận tăng gấp 10 hay 100 lần thì cũng đáng đầu tư, mức giá chuyển đổi thường bị bỏ qua và việc phát hành được tính toán pha loãng cổ phiếu chỉ dựa trên cơ sở của sự chuyển đổi hoàn toàn khi phát hành chứng khoán cao cấp mới. Nói cách khác, cần phải xem xét tất cả các lần phát hành chứng khoán cao cấp có khả năng chuyển đổi đã được chuyển đổi chưa và tất cả giấy tờ bảo đảm, quyền chọn, v.v…, đã được sử dụng khi tính toán số lượng thực sự cổ phiếu thường.

Nếu công ty được cấp vốn cổ phần liên tục trong nhiều năm mà lợi nhuận các cổ đông sở hữu cổ phiếu thường chỉ tăng lên đôi chút, thì chỉ có một lý do hợp lý đó là khả năng quản lý tài chính yếu kém của bộ máy điều hành. Chính điều này đã làm cho công ty không còn trở thành một khoản đầu tư đáng mong đợi. Trừ khi tình trạng này là phổ biến trên thị trường, thì nhà đầu tư không cần phải xem xét các khả năng tài chính nữa, bởi đa phần những doanh nghiệp thỏa mãn 14 tiêu chí còn lại, đều hứa hẹn một khoản đầu tư rất khả quan. Trái lại, từ quan điểm muốn tạo ra nguồn lợi nhuận cao nhất qua các năm, nhà đầu tư không bao giờ nên chọn những doanh nghiệp không thỏa mãn 14 tiêu chí kia kể cả khi nó có lợi thế tài chính và tình trạng tiền mặt tốt.

Tiêu chí 14. Bộ máy quản lý công ty có luôn minh bạch với các nhà đầu tư về tình hình công ty khi nó hoạt động tốt nhưng lại che giấu khi có vấn đề ?

Cách hành xử này gần như là việc làm rất tự nhiên của các doanh nghiệp, dù cho đó là những doanh nghiệp có thể giải quyết tốt nhất khó khăn ngoài ý muốn. Ví dụ như, khi lợi nhuận thu về hạn chế, hoặc nhu cầu sản phẩm giảm trong một giai đoạn nhất định. Hơn nữa, công ty mà các nhà đầu tư nên mua cổ phiếu nhất thường là công ty thu được lợi nhuận cao nhất do hoạt động ổn định trong nhiều năm nhờ nỗ lực nghiên cứu quy trình công nghệ mới nhằm sản xuất và bán những sản phẩm mới. Theo quy luật bình quân, chắc chắn một số sản phẩm trong số này sẽ thất bại nặng nề. Những sản phẩm khác thì vấp phải sự trì hoãn không mong đợi, và những khoản chi phí khổng lồ trong suốt giai đoạn đầu thử nghiệm sản xuất. Vào các tháng cuối, chi phí ngoài dự tính sẽ làm dự báo lợi nhuận của công ty bị sai lệch. Sự thất vọng là không thể tránh khỏi kể cả với những công ty thành công nhất. Nếu nhà đầu tư quyết đoán và có khả năng suy xét tốt, thì họ sẽ nhìn nhận điều này như một trong những khoản chi phí cuối cùng để tiến đến thành công. Đó là điểm mạnh chứ không hẳn là điểm yếu của một công ty.

Nhà quản lý sẽ có phản ứng như thế nào với những vấn đề mang tính cốt lõi đối với nhà đầu tư? Thông thường nhà quản lý sẽ không thoải mái khi phải báo cáo về những điều tồi tệ đang xảy ra trong công ty. Lẽ tất nhiên họ sẽ giữ im lặng vì một vài lý do quan trọng hoặc do không có kế hoạch chuẩn bị trước để đối phó với khó khăn bất ngờ. Chính điều này sẽ gây ra tâm lý hoang mang cho nhà đầu tư. Cách hành xử đó chứng tỏ bộ máy quản lý không ý thức đầy đủ về trách nhiệm với cổ đông, và không có lý do nào có thể biện minh về việc không báo cáo kịp thời các thông tin xấu. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhà đầu tư cũng sẽ loại trừ việc đầu tư vào những công ty đang cố gắng che giấu những thông tin không tốt.

Tiêu chí 15. Bộ máy quản lý công ty có liêm khiết không?

Bộ máy quản lý của công ty tiếp xúc cận kề với tài sản hơn các cổ đông. Có nhiều cách lách luật để các nhà quản lý công ty có thể tư lợi cho họ và gia đình, làm tổn hại đến lợi ích của các cổ đông bình thường. Có một cách là tự chi trả tiền công vượt mức. Cách khác là lợi dụng chức vụ để bắt công ty mua hoặc thuê lại những tài sản của chính họ với mức giá cao hơn hẳn mức giá chung của thị trường. Trong những tập đoàn nhỏ hơn, sẽ khó có thể phát hiện ra điều này bởi đôi khi gia đình hoặc các nhân sự chủ chốt mua bán và thuê mướn bất động sản, không phải vì những mục đích kiếm lợi bất chính, mà vì mong muốn chính đáng là giải phóng nguồn vốn hoạt động bị giới hạn cho những mục đích của công ty khác.

Một phương pháp khác để người trong cuộc có thể làm giàu cho chính mình là buộc các đại lý bán hàng phải thông qua các hãng môi giới nhất định ‒ có thể là sở hữu của chính họ hoặc họ hàng hay bạn bè ‒ để kiếm tiền hoa hồng. Nhưng cách làm gây nhiều thiệt hại nhất cho các nhà đầu tư là việc lạm dụng việc phát hành quyền chọn. Vì họ có thể đưa ra những phương án có lợi nhất cho họ dựa trên tổng số quyền mua.

Chỉ có một cách bảo vệ thật sự có khả năng chống lại sự lạm dụng trên và giúp các nhà đầu tư thu hẹp phạm vi lựa chọn những công ty tốt có ban quản trị đáng tin cậy và
ý thức rõ trách nhiệm với các cổ đông. Đó là sử dụng phương pháp “lời đồn đại.” Kể cả khi công ty đó có thứ hạng cao, nhà đầu tư cũng không nên đầu tư vào nếu vẫn còn những nghi ngờ về bộ máy quản lý.

Sách mới

Random Post


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.